Đối với những người Trung Quốc đang muốn đất nước mình là một thành viên đáng tin cậy của cộng đồng quốc tế, của Công ước về Luật biển 1982 thì việc từ bỏ "đường đứt khúc 9 đoạn" sẽ khắc phục được tình trạng mập mờ cản trở thực tiễn, tạo niềm tin với các nước hữu quan, làm cho các cuộc đàm phán phân định biển trong khu vực trở nên khách quan hơn, thúc đẩy hợp tác và phát triển.
_______________________________
Gần đây dư luận đang ngày càng quan tâm về những hành động của Trung Quốc trên biển Đông. Các hoạt động này rộ lên từ đầu năm 2009, bắt đầu từ vụ đụng độ tàu Mỹ và Trung Quốc ngày 8/3 trên biển Đông, lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc từ ngày 16/5/2009, tăng cường lực lượng tàu ngư chính xuống biển Đông, đề xuất của hải quân Trung Quốc phân chia quyền kiểm soát Thái Bình Dương giữa Trung Quốc và Mỹ, tới tuyên bố của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) ngày 16/6/2009 sẽ tiến hành khoan sâu thăm dò khai thác trong biển Đông trong năm 2009. Nhưng gây quan ngại nhiều nhất chính là việc ngày 7/5/2009 Trung Quốc chính thức yêu cầu lưu truyền trong cộng đồng các nước thành viên Liên Hợp Quốc bản đồ thể hiện đường lưỡi bò (hay còn gọi là đường chữ U, đường đứt khúc 9 đoạn) trên biển Đông, yêu sách không chỉ các đảo, đá mà toàn bộ vùng biển trong đó.
1. Sự hình thành đường đứt khúc 9 đoạn và những điều không rõ ràng
Cho đến ngày 7/5/2009, các chính quyền Trung Quốc đều chưa có giải thích gì về con đường chữ U trong biển Đông. Theo các tác giả Trung Quốc, đường chữ U lần đầu tiên xuất hiện trên bản đồ các đảo trong biển Nam Trung Hoa - The Location Map of the South China SeaIslands (Nanhai zhudao weizhi tu) do Fu Jiaojin, Wang Xiguang biên soạn và được Vụ Địa lý của Bộ Nội vụ Trung Quốc xuất bản vào năm 1947[1]Một số người khác còn cố đẩy thời gian xuất xứ của con đường này xa hơn nhằm mục đích giải thích có lợi cho Trung Quốc. Họ cho rằng đường chữ U này do một người tên là Hu Jinjie vẽ từ năm 1914 và đến tháng 12/1947, một viên chức của Cộng hòa Trung Hoa tên là Bai Meichu vẽ lại đường này trong một bản đồ cá nhân để thể hiện cảm xúc của mình khi nghe tin về việc Pháp chiếm đóng các đảo Trường Sa năm 1933.[2] Tuy nhiên, các tác giả Trung Quốc cũng phải khách quan thừa nhận “không rõ khi vẽ đường này Bai Meichu có đủ hiểu biết và kiến thức về luật biển quốc tế đương đại hay không?”. Daniel Schaeffer trong “Biển Đông: Những điều hoang tưởng và sự thật của đường lưỡi bò” và các nhà nghiên cứu nước ngoài khác cũng cho rằng bản đồ đường đứt khúc này xuất hiện trong một tập bản đồ tư nhân (chứ không phải của Nhà nước).
Đường đứt khúc gồm 11 đoạn vẽ bao gộp các quần đảo Đông Sa, Hoàng Sa, Trường Sa và bãi ngầm Trung Sa và có điểm giới hạn phía Nam là vĩ tuyến 40. Tuy nhiên năm 1953 đường 11 đoạn đã được điều chỉnh thành 9 đoạn, bỏ 2 đoạn trong Vịnh Bắc Bộ, không rõ nguyên nhân. Trên thực tế đến nay không có bất kỳ một tài liệu nào cho biết tọa độ cũng như vị trí chính xác của đường lưỡi bò. Chính quyền Trung Quốc cũng chưa bao giờ đề cập đường lưỡi bò như là một ranh giới bất khả xâm phạm đối với chủ quyền Trung Quốc mặc dù các bản đồ biển Nam Trung Hoa đều có thể hiện đường này. Chính vì vậy đã có nhiều bàn luận giải thích về ý nghĩa của đường này. Các học giả Trung Quốc đưa ra ba cách giải thích:
1) Giáo sư Gao Zhiguo, Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển biển, Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc cho rằng đường này yêu sách sở hữu các đảo nằm bên trong hơn là một đường biên giới biển. Ông nhận xét: “Nghiên cứu kỹ các tài liệu Trung Quốc cho thấy Trung Quốc chưa bao giờ yêu sách toàn bộ cột nước của biển Nam Trung Hoa mà chỉ có các đảo và vùng nước xung quanh các đảo nằm trong đường này”.
2) Pan Shiying (Phan Thạch Anh) cho rằng con đường này đã tồn tại một nửa thế kỷ nay, không quốc gia nào phản đối và vì vậy đã tạo ra một danh nghĩa lịch sử cho Trung Quốc, là con đường biên giới quốc gia. Trung Quốc yêu sách chủ quyền không chỉ các đảo, đá của bốn quần đảo Đông Sa, Tây Sa (Hoàng Sa), Trung Sa (bãi ngầm Macclefield) và Nam Sa (Trường Sa) mà toàn bộ vùng nước trong đường chữ U đó. Theo ông, “Chính phủ Trung Quốc thông qua việc ấn bản các bản đồ này muốn gửi ba thông điệp tới cộng đồng quốc tế:
1.Khu vực nằm trong đường biên giới này là các đảo, đá và các vùng nước kế cận của chúng đã thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc trong lịch sử.
2.Phù hợp với các công ước quốc tế, vị trí và hướng đi của con đường đứt khúc 11 đoạn này (sau thay bằng 9 đoạn) đã được vạch theo cách gần như là đường cách đều giữa rìa ngoài của bốn quần đảo trong biển Nam Trung Hoa với đường bờ biển của các quốc gia kế cận. Điều này đã và đang là hợp pháp vào thời gian đó của chiếm cứ, chiếm hữu và quản lý.
3.Thực tiễn sử dụng các đường đứt khúc hơn là một đường liên tục để đánh dấu một số các khu vực chủ chốt đã chỉ ra thực chất của việc “chưa dứt điểm”, để lại khả năng đưa ra những điều chỉnh cần thiết trong tương lai”.
Nói cách khác vùng nước do con đường này bao bọc là vùng nước lịch sử theo chế độ nội thủy của Trung Quốc. Con đường này chỉ là hình thức, còn danh nghĩa lịch sử của Trung Quốc trên vùng biển này mới là nội dung.
3) Zou Keyuan cho rằng yêu sách của Trung Quốc không nên xem như yêu sách vùng nước lịch sử theo nghĩa truyền thống mà giống như một dạng yêu sách các quyền chủ quyền và quyền tài phán lịch sử chứ không phải là yêu sách chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối. Nói cách khác, đây là sự ngụy biện liên hệ đường lưỡi bò với các khái niệm quyền chủ quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của luật biển hiện đại.
Rõ ràng nguồn gốc và ý nghĩa của đường lưỡi bò này hoàn toàn mập mờ, không chính xác đến nỗi bản thân các học giả Trung Quốc cũng không thống nhất được một giải thích hợp lý nào. Yann HueiSong còn cho rằng “không có cơ sở nào trong luật quốc tế cho yêu sách lịch sử đó”.
Đường đứt khúc 9 đoạn dưới góc độ luật pháp quốc tế
Với công hàm ngày 7/5/2009 có kèm bản đồ đường chữ U, có vẻ như Trung Quốc đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải thừa nhận “tính chất lịch sử của đường lưỡi bò, coi biển Đông như một vịnh lịch sử”. Đường này sẽ được ngộ nhận là đường biên giới quốc gia trên biển của Trung Quốc. Họ cũng rất khéo kết hợp con đường này với các khái niệm đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của luật biển quốc tế hiện đại bằng tuyên bố dưới dạng Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi với các vùng nước phụ cận của quần đảo Nam Sa (Trường Sa theo tên Việt Nam). Như vậy toàn bộ biển Đông sẽ trở thành “ao hồ” của Trung Quốc.
Theo luật pháp quốc tế, một vịnh hay một vùng nước được coi là lịch sử, căn cứ vào tập quán và các phán quyết của Tòa án và Trọng tài quốc tế phải thỏa mãn ít nhất hai điều kiện:
1. Tại đó quốc gia ven biển thực hiện một cách thực sự chủ quyền của mình một cách liên tục, hòa bình và lâu dài;
2. Có sự chấp nhận công khai hoặc sự im lặng không phản đối của các quốc gia khác, nhất là các quốc gia láng giềng và có quyền lợi tại vùng biển này.
Về điều kiện thứ nhất, Trung Quốc phải chứng minh được các chính quyền của họ đã thực thi chủ quyền trên toàn bộ biển Đông này một cách thực sự, liên tục và hòa bình trong thời gian dài. Điều này thật khó bởi vì:
- Các văn kiện chính thức của nhà nước phong kiến Trung Quốc, như Đại Nguyên nhất thống chí (1294), Đại Minh Nhất thống chí (1461), Đại Thanh Nhất thống chí (1842) trước năm 1909 đều khẳng định “cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc là Nhai huyện, đảo Hải Nam”. Các bản đồ lãnh thổ Trung Quốc của người nước ngoài cùng thời cũng vẽ và giải thích phù hợp với cách hiểu này của người Trung Quốc. Bản đồ Trung Quốc thế kỷ 17 của Peter de Goyer và Jacob de Keyzer thuộc công ty Đông Ấn - Hà Lan cũng có lời giải thích rất rõ: “Nơi xa nhất của Trung Quốc bắt đầu từ phía Nam đảo Hải Nam ở 18 độ vĩ Bắc, rồi từ đó ngược lên phía Bắc đến vĩ độ 42 độ.
[7] Trung Quốc chỉ thực sự bước chân lên quần đảo Hoàng Sa năm 1909 khi quần đảo này đã thuộc Việt Nam, không còn là đất vô chủ. Về Trường Sa, cho tới tận năm 1932, công hàm ngày 29/9/1932 của phái đoàn ngoại giao Trung Hoa Dân quốc tại Pa-ri vẫn còn khẳng định các nhóm đảo “Amphitrite” (Lưỡi Liềm) và “Croissant” (An Vĩnh) của quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) “tạo thành phần lãnh thổ Trung Quốc nằm tận cùng ở phía Nam”.
- Trung Quốc đã không đưa ra được các bằng chứng nào có sức thuyết phục về việc họ đã thực thi chủ quyền trên toàn bộ vùng biển rộng lớn này một cách liên tục, hòa bình từ thời xa xưa. Các sách Hán văn cổ đều ghi nhận các hoạt động của dân đánh cá và dân buôn Ả Rập, Ấn Độ, Malay, Việt, và vùng Vịnh trong vùng biển này,[8] không có một bằng chứng nào cho thấy biển Đông hoàn toàn là “ao hồ Trung Quốc”. Các chính quyền phong kiến Trung Quốc cũng không thiết lập hoặc duy trì có lợi cho họ một sự độc tôn nào trong vùng biển này, khả dĩ có thể loại bỏ hoạt động khai thác của các đội Hoàng Sa và Bắc Hải của triều Nguyễn. Ngược lại còn có những hành động thừa nhận tính hợp pháp của các hoạt động đó như trường hợp năm 1774: quan huyện Văn Xương giúp đội viên đội Hoàng Sa khi đi làm nhiệm vụ bị bão dạt vào đất Trung Quốc.
- Đường đứt khúc 9 đoạn của Trung Quốc không phải là một con đường có tính ổn định và xác định. Từ 11 đoạn nó đã phải bỏ đi 2 đoạn trong Vịnh Bắc Bộ vì quá vô lý. Tính chất không liên tục của đường này được các tác giả Trung Quốc giải thích để cho “những điều chỉnh cần thiết trong tương lai”. Một con đường như vậy rõ ràng không thể nào lại được coi là “biên giới quốc gia” theo luật pháp quốc tế. Đặc tính quan trọng nhất của một đường biên giới quốc tế là tính ổn định và dứt khoát.[9] Trong một xã hội có trật tự riêng, các đường biên giới là một trong số các thể chế ổn định nhất từ tất cả các thể chế.[10] Vậy mà ở đây đến cả người Trung Quốc, tác giả của đường này còn chưa biết nó đi thế nào, thì sao có thể gọi đó là biên giới quốc gia được?
Về điều kiện thứ hai, Trung Quốc chưa bao giờ công bố chính thức yêu sách biển Đông theo đường ranh giới gồm 9 đoạn không liền nhau này. Theo luật pháp quốc tế, các hành vi mà quốc gia thể hiện phải mang tính công khai ý chí thực thi chủ quyền trên lãnh thổ đó. Các hành vi này phải chính danh như những hành vi bình thường của một quốc gia. Những hành vi bí mật không thể tạo nên cơ sở cho quyền lịch sử; ít nhất các quốc gia khác phải có cơ hội để biết được cái gì đang diễn ra.[11] Các học giả Trung Quốc mặc nhận rằng con đường này tồn tại từ lâu mà không có quốc gia nào phản đối. Tuy nhiên, luật pháp quốc tế cho rằng một yêu sách phải được tuyên bố rõ ràng, không mập mờ, chính thức và được duy trì trong một thời gian dài đủ để quốc gia có ý kiến bất đồng phải đưa ra ý kiến chính thức của họ. Đường chữ U có nguồn gốc từ một bản đồ tư nhân, không phải là cái để các quốc gia khác có ý kiến. Hơn nữa, việc các nước tham gia hội nghị San Francisco năm 1951 đã bác bỏ đề nghị của Liên Xô trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và thực tế tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như đòi hỏi của Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a đối với hầu như toàn bộ hoặc một bộ phận của quần đảo Trường Sa cho thấy không thể nói đường ranh giới 9 đoạn trên biển Đông mà Trung Quốc vạch ra đã được các nước khác công nhận. Trong các hội nghị quốc tế như Hội nghị kiềm chế các xung đột tiềm tàng trong Nam Trung Hoa tổ chức hàng năm theo sáng kiến của In-đô-nê-xi-a, các đại biểu Trung Quốc luôn lảng tránh khi bị chất vấn về cơ sở pháp lý và lịch sử của con đường này.
- Con đường đứt khúc 9 đoạn này mâu thuẫn ngay với quan điểm chính thức của Trung Quốc đã nêu trong Tuyên bố ngày 4/9/1958 về các vùng biển Trung Quốc:
“Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố:
1.Bề rộng lãnh hải của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Quy định này áp dụng cho tất cả lãnh thổ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm lục địa và các đảo ven bờ, cũng như Đài Loan và các đảo phụ cận, Bành Hồ, Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa quần đảo và tất cả các đảo thuộc Trung Quốc được tách rời khỏi lục địa và các đảo ven bờ bởi biển cả”.
Rõ ràng Trung Quốc công nhận rằng các đảo bị tách biệt với lục địa bởi biển cả, chứ không phải các vùng nước lịch sử. Trong Luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp của CHND Trung Hoa năm 1992, Trung Quốc cũng chỉ nêu đòi hỏi lãnh hải 12 hải lý xung quanh những vùng đất yêu sách chủ quyền và vùng tiếp giáp 12 hải lý dành cho thuế quan và các mục đích tương tự chứ không xác định “vùng nước lịch sử”. Ngày 15/6/1996, Trung Quốc phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 và ban hành “Quy định về hệ thống đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải, bao gồm quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa). Quy định đường cơ sở của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa đã vi phạm hai nguyên tắc cơ bản: đó là sự vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam và cũng là sự vi phạm các quy định của luật biển quốc tế về vạch đường cơ sở. Nếu đặt vấn đề chủ quyền lãnh thổ sang một bên để chỉ xét về mặt kỹ thuật thì việc vạch đường cơ sở của Trung Quốc tại Hoàng Sa không tôn trọng tinh thần và nội dung của Công ước của Liên Hợp Quốc năm 1982 về Luật biển. Hệ thống đường cơ sở thẳng ở đây nối liền các điểm nhô ra nhất của các đảo, các bãi nửa nổi nửa chìm ngoài cùng của quần đảo như Đá Bắc (Beijiao), Cồn Cát Tây (Zhaoshudao), Đảo Bắc (Beidao), Đảo Nam (Nandao), Đảo Lincon (Dongdao), Đá Bông Bay (Langhuajiao). Các đoạn dài nhất là đoạn 3-4 (Lincon-Đá Bông Bay) 36,3 hải lý; đoạn 7-8 (Đá Bông Bay-Đá Triton) 75,8 hải lý; đoạn 14-15 (Đá Triton-Đá Bắc) 78,8 hải lý; đoạn 22-23 (Đá Bắc-Cồn Cát tây) 41,5 hải lý; đoạn 28-1 (Đảo Nam-Đảo Lincon) 28 hải lý. Ở đây rõ ràng Trung Quốc đã áp dụng phương pháp vạch đường cơ sở quần đảo chỉ quy định cho các quốc gia quần đảo (Điều 47 của Công ước) để vạch đường cơ sở cho các quần đảo xa bờ. Điều 47 quy định: Quốc gia quần đảo có thể vạch các đường cơ sở thẳng của quần đảo nối các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá nửa nổi nửa chìm của quần đảo, với điều kiện là tuyến các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà tỷ lệ diện tích nước so với đất, kể cả vành đai san hô phải ở giữa tỷ số 1/1 và 9/1. Diện tích mà hệ đường cơ sở này của Trung Quốc bao lấy là một khu vực rộng 17.000 km2, trong khi tổng diện tích các đảo nổi của quần đảo Hoàng Sa là 10 km2. Ngoài ra, hầu hết các đá, bãi san hô mà Trung Quốc sử dụng ở đây đều không thích hợp cho con người đến ở hoặc không có một đời sống kinh tế riêng. Các đảo này lại cách xa nhau quá 24 hải lý, không có lý do gì có thể nối các đoạn đường cơ sở như vậy. Do vậy bất kỳ một vùng biển nào mà Trung Quốc tuyên bố bao quanh vùng biển của các mỏm đá, bãi san hô này về mặt kỹ thuật đều trái với các quy định của Công ước 1982. Tuyên bố về đường cơ sở ngày 15/5/1996 của Trung Quốc áp dụng đối với cả quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam cho thấy việc Trung Quốc yêu sách một vùng nội thủy nằm trong một vùng nước lịch sử có cùng chế độ nội thủy là một mâu thuẫn lớn trong lập trường của họ. Lập trường này của Trung Quốc cũng mâu thuẫn ngay với chính các tuyên bố của Trung Quốc về việc tàu chiến Mỹ đã vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc trong vụ ngày 8/3/2009. Chẳng lẽ cùng lúc Trung Quốc lại yêu sách một vùng biển với hai chế độ pháp lý khác nhau: quyền chủ quyền trong vùng đặc quyền kinh tế nằm trong vùng nước nội thủy có tính chất chủ quyền?
- Trong lập luận của mình, các học giả Trung Quốc đã viện dẫn một số trường hợp yêu sách vùng nước lịch sử trong thực tiễn quốc tế như yêu sách của Liên Xô cũ ngày 20/7/1957 tại vịnh Pierre Đại đế,[12] yêu sách của Lybi ngày 11/10/1973 tại vịnh Sidra.[13] Theo họ, các ví dụ này chứng tỏ rằng trong thực tiễn quốc tế, luật về các vịnh lịch sử đã có được một quy chế pháp lý riêng biệt và như vậy yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc là hợp pháp. Lập luận này dựa trên cơ sở 15 trường hợp yêu sách quá đáng vùng nước lịch sử mà luật pháp quốc tế luôn phê phán. Các trường hợp ít ỏi này không tạo ra được một opinion juris (ý thức pháp luật) và một thực tiễn pháp lý không đổi nên chúng không bao giờ được luật quốc tế chấp nhận như một quy tắc tập quán. Vùng nước nằm trong đường 9 đoạn chiếm 80% diện tích biển Đông mà Trung Quốc cho là “vùng nước lịch sử” là không có cơ sở pháp lý. Luật quốc tế không hề biết đến một vùng nước lịch sử lớn đến như vậy. Yêu sách “đường lưỡi bò” đi ngược lại với học thuyết các vùng nước lịch sử. Cộng đồng quốc tế chưa bao giờ ghi nhận một yêu sách như vậy và sẽ không chấp nhận một khoảng không gian rộng lớn như biển Đông - biển lớn nhất, nhì thế giới - nằm dưới quyền tài phán của duy nhất một nước.
- Quan điểm của Bắc Kinh và Đài Loan, bên đầu tiên đưa ra yêu sách đường chữ U cũng khác nhau. Ngày 30/12/1992, Viện Lập pháp Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) đã thông qua "Luật vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Trung Hoa Dân Quốc". Luật này được ban hành trên cơ sở nguyên tắc "chủ quyền thực tế” bỏ đi điều khoản về "vùng nước lịch sử” (vùng nước trong đường chữ U). Ngày 2/1/1993, Viện Lập pháp Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) thông qua "Luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp Trung Hoa Dân Quốc". Luật này quy định Lãnh hải Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) rộng 12 hải lý đồng thời quy định các điểm cơ sở để vạch đường cơ sở và ranh giới ngoài lãnh hải do Viện Hành chính quy định và công bố trong thời gian tới. Trong các đạo luật này, khác với Trung Quốc, Đài Loan đã không đề cập "tính chất lịch sử" của đường lưỡi bò mà họ đã từng yêu sách năm 1947. Họ chỉ yêu sách các đảo đá, bãi cạn nằm trong giới hạn đường chữ U nhưng không yêu sách vùng nước trong giới hạn đó.
- Đường đứt khúc 9 đoạn mà Trung Quốc yêu sách này chạy sát bờ biển của các nước, có đoạn chỉ cách bờ biển Việt Nam khoảng 50 – 100 km, trong khi Trường Sa cách bờ Việt Nam khoảng trên 200 hải lý. Đường này còn chạy sát bãi Shoal James (Tăng Mẫu) của Ma-lai-xi-a và đảo Natuna của In-đô-nê-xi-a, quần đảo Phi-líp-pin gây lo ngại sâu sắc cho các nước trong khu vực. Vì vậy, thật khó có thể đồng ý với các học giả Trung Quốc rằng con đường này được vạch “theo cách gần như là đường cách đều giữa rìa ngoài của bốn quần đảo trong biển Nam Trung Hoa với đường bờ biển của các quốc gia kế cận, phù hợp với các công ước quốc tế”. Trước hết, các công ước quốc tế cũng như thực tế xét xử của các cơ quan tài phán quốc tế không trù định quyền ưu tiên của phương pháp đường cách đều trong phân định nhất là trong trường hợp có các danh nghĩa lịch sử. Trung Quốc khẳng định xây dựng yêu sách của mình trên cơ sở “danh nghĩa lịch sử”, đồng thời lại áp dụng phương pháp đường cách đều để phân định, phủ nhận danh nghĩa lịch sử đó. Điều này không nhất quán.Thứ hai, nếu vẽ đúng kỹ thuật, con đường này hoàn toàn không thể là con đường cách đều giữa các đảo nằm giữa biển Đông với bờ biển của các nước xung quanh. Đó là chưa kể đến điều 121 của Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 quy định rằng những đảo, đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì chỉ có lãnh hải rộng không quá 12 hải lý.
Thay lời kết, B.A. Hamzah, học giả Ma-lai-xi-a nhận xét “Một yêu sách phi lý như vậy không thể có một danh nghĩa gì, do đó sự không có danh nghĩa sẽ kéo theo sự không có quyền tài phán”.[15] Chủ quyền không thể suy diễn, không thể dựa trên những dẫn chứng thiếu cơ sở. Đường đứt khúc 9 đoạn, con đường không được xác định rõ cả về cơ sở pháp lý lẫn tọa độ địa lý, đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ không chỉ của các nước liên quan mà còn là sự thách thức đối với quyền lợi hàng hải, hàng không… của cộng đồng quốc tế. Từ bao đời nay, các quốc gia trong khu vực vẫn tiến hành các hoạt động sử dụng biển một cách bình thường trong biển Đông không có sự ngăn cản nào của Trung Quốc. Đòi hỏi đường chữ U như là một đường biên giới quốc gia trên biển và yêu sách hầu hết biển Đông cùng các đảo, đá trong đó như Daniel Schaeffer - nguyên Tùy viên quân sự Pháp tại Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan - nhận xét, thực chất cố tình làm cho hầu hết người dân Trung Quốc và một số người khác hiểu rằng đây đơn giản là sự khẳng định đối với “việc đã rồi”, biển Nam Trung Hoa (biển Đông) và 4 quần đảo trong đó là của Trung Quốc, và vì thế không việc gì phải bàn cãi.
Tuy nhiên, đối với những người Trung Quốc đang muốn đất nước mình là một thành viên đáng tin cậy của cộng đồng quốc tế, của Công ước về Luật biển 1982 thì việc từ bỏ đường này sẽ khắc phục được tình trạng mập mờ cản trở thực tiễn, tạo niềm tin với các nước hữu quan, làm cho các cuộc đàm phán phân định biển trong khu vực trở nên khách quan hơn, thúc đẩy hợp tác và phát triển.
Một cách tự nhiên, biển Đông là nơi liên kết các nền văn minh kinh tế giữa các nước Đông Nam Á và giữa họ với phần lục địa phía Nam Trung Quốc. Với vị trí địa chính trị, cấu tạo tự nhiên và hoạt động kinh tế - xã hội liên kết giữa các quốc gia, biển Đông là ngôi nhà chung của các nước trong khu vực và chứa đựng nhiều quan tâm chung của các nước trong và ngoài khu vực. Biển Đông không thuộc hoàn toàn về một nước, không thuộc Trung Quốc, Việt Nam, Ma-lai-xi-a, hay Phi-lip-pin, Bru-nây. Các vấn đề của biển Đông cần được các nước trong khu vực, trên tinh thần cầu thị, tôn trọng chủ quyền và lợi ích của nhau, tuân thủ pháp luật quốc tế, cùng nhau tìm một giải pháp công bằng, mà các bên có thể chấp nhận.
PGS.TS. Nguyễn Hồng Thao, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Bài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số tháng 12 năm 2009
[1] Li Jinmin & Li Dexia, “The dotted line on the Chinese map of the South China Sea: A Note”, Ocean Development & International Law, 34:287–295, 2003, p. 287-288.
[2]Yu, Peter Kien-Hong, “The Chinese (broken) U-shaped line in the South China Sea: points, lines, and zones”, Publication: Contemporary Southeast Asia, 01/12/2003, p. 2.
[3] Daniel Schaeffer “Biển Đông: Những điều hoang tưởng và sự thật của đường lưỡi bò”, Diplomatie 36, January and February 2009.
[4] Gao Zhiguo, “The South China Sea: From Conflict to Cooperation”, Ocean Development and International Law, vol. 25 (1994): 346.
[5] Pan Shiying, “The petropolotics of the Nansha islands - China’s indisputable legal case” (Chính trị dầu mỏ của các đảo Nam Sa - lập luận pháp lý không thể tranh cãi của Trung Quốc), Economic Information & Agency, July 1996.
[6] Yann Huei Song, “China's "Historic waters"in the South China sea: An analysis from Taiwan”, American Asian Review, Vol. 12, N.. 4, Winter, 1994, pp. 83-101.
[7] Peter de Goyer and Jacob de Keyzer, An Embassy from the East - India company united provinces to the grand tartar cham emperor of China…, thư viện Menzies, Australia, v. Ige. Rare b DS 708.N64.
[8] G.M.C Valero, Spratly archipelago: is the question of sovereignty still relevant?, IILS, University of the Philippines, Law Center, Diliman, Quezon city, 1993.
[9]Tuyển tập các phán quyết, sắc lệnh của Tòa án pháp lý quốc tế ICJ, 1962, vụ Đền Préah Vihéar, tr.34.
[10] R.Y. Jennings, The Acquisition of Territory in International Law, Manchester, 1963, p.70.
[11] Tuyển tập các phán quyết, lệnh của Tòa án pháp lý quốc tế ICJ, 1951, vụ Ngư trường Anh – Na Uy, tr.116, 139; G. Fitzmaurice, “Luật pháp và điều lệ của Tòa án pháp lý quốc tế, 1951-1954”, BYIL 1954, quyển 30, tr. 1-30.
[12] Roach and Smith, “Excessive Maritime claims” (Các yêu sách biển quá đáng), International Law studies, vol. 66, 1994.
[13] Lybi đã khép vịnh này với diện tích 22.000 hải lý vuông bằng một đường thẳng dài 300 hải lý. Quyết định này đã bị các nước phản đối mạnh, nhất là Hoa Kỳ và các cường quốc hàng hải.
[15] B.A. Hamzah: “Các vấn đề tài phán tranh chấp trong khuôn khổ Spratly đối với việc giải quyết tranh chấp”, Hội nghị kiềm chế xung đột tiềm tàng trong biển Nam Trung Hoa, Bandung, Un-đô-nê-xi-a, 15-18/7/1991, tr.199-200.
“…Pháp luật quốc tế ghi nhận một trong những cơ sở nền tảng (nguyên tắc cơ bản) để xác lập hợp pháp danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia là: việc xác lập chủ quyền phải dựa vào các phương thức thụ đắc lãnh thổ hợp pháp. Một phương thức thụ đắc lãnh thổ được coi là hợp pháp khi nó được tiến hành trên một đối tượng lãnh thổ phù hợp (đối tượng thụ đắc của phương thức chiếm cứ hữu hiệu là lãnh thổ vô chủ hoặc lãnh thổ bị bỏ rơi). Chủ thể xác lập danh nghĩa chủ quyền phải có tư cách quốc gia và được thực hiện theo đúng cách thức mà luật quốc tế về thụ đắc lãnh thổ đòi hỏi…”
_____________________________________
Từ khóa : Luật Quốc tế; Nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ; Chủ quyền lãnh thổ
*******
Lãnh thổ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quan hệ giữa các quốc gia, là cơ sở vật chất cho sự tồn tại của quốc gia, duy trì ranh giới quyền lực nhà nước đối với một cộng đồng dân cư nhất định, góp phần tạo dựng một trật tự pháp lý quốc tế hòa bình và ổn định.
Luật pháp quốc tế hiện đại ghi nhận quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ trong mối quan hệ tổng thể, logic và biện chứng giữa những yếu tố tự nhiên với những yếu tố liên quan mật thiết khác, như chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, lịch sử… của cộng đồng một quốc gia với cộng đồng quốc tế.
Việc xác lập chủ quyền lãnh thổ chỉ được coi là hợp pháp khi dựa trên những cơ sở và phương thức do luật quốc tế quy định.
Trước đây khi chiến tranh được coi là phương tiện hợp pháp để giải quyết các tranh chấp quốc tế thì cơ sở xác lập chủ quyền lãnh thổ và thay đổi lãnh thổ quốc gia chủ yếu thông qua chiến tranh xâm chiếm lãnh thổ. Ngày nay, luật quốc tế hiện đại thừa nhận và khẳng định nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực đã làm thay đổi hẳn cơ sở của việc xác lập chủ quyền lãnh thổ.
Pháp luật quốc tế ghi nhận một trong những cơ sở nền tảng (nguyên tắc cơ bản) để xác lập hợp pháp danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia là: việc xác lập chủ quyền phải dựa vào các phương thức thụ đắc lãnh thổ hợp pháp. Một phương thức thụ đắc lãnh thổ được coi là hợp pháp khi nó được tiến hành trên một đối tượng lãnh thổ phù hợp (đối tượng thụ đắc của phương thức chiếm cứ hữu hiệu là lãnh thổ vô chủ hoặc lãnh thổ bị bỏ rơi). Chủ thể xác lập danh nghĩa chủ quyền phải có tư cách quốc gia và được thực hiện theo đúng cách thức mà luật quốc tế về thụ đắc lãnh thổ đòi hỏi.
1. Các nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ trong luật quốc tế
“Thụ đắc lãnh thổ” là việc thiết lập ranh giới địa lý chủ quyền của một quốc gia đối với một vùng lãnh thổ mới theo những phương thức phù hợp với nguyên tắc của pháp luật quốc tế .Là một chế định của luật pháp quốc tế, việc xác lập chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định của luật pháp quốc tế. Vì vậy, việc thụ đắc lãnh thổ cũng phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù riêng của chế định “lãnh thổ” không phải bất kỳ một sự thụ đắc lãnh thổ nào cũng đều phải tuân thủ tất cả các nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế sau có liên quan trực tiếp tới vấn đề “thụ đắc lãnh thổ”.
a). Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia
Chủ quyền là thuộc tính chính trị pháp lý không thể tách rời của quốc gia bao gồm 2 nội dung chủ yếu: Quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong các quan hệ đối ngoại. Nguyên tắc này sẽ chi phối các quốc gia trong quá trình thụ đắc lãnh thổ.
b). Nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực
Nguyên tắc này được hành thành trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít và đã được khẳng định trong Hiến chương Liên hợp quốc. Thời gian đầu nguyên tắc này thể hiện mong muốn của các dân tộc trong việc thiết lập một trật tự quốc tế công bằng sau chiến tranh. Nghị Quyết số 26/25 (1970) của Đại hội đồng Liên hợp quốc về các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế đã quy định rõ “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của việc thụ đắc bởi một quốc gia khác bằng việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Việc thụ đắc lãnh thổ bằng việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực không được thừa nhận là hợp pháp”.
Cùng với sự phát triển của các mối quan hệ quan hệ quốc tế, việc sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế đã bị coi là bất hợp pháp thì nguyên tắc này được hiểu với nội hàm rộng hơn, đó là việc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ phi vũ trang. Định ước Henxinki năm 1975 quy định rằng các quốc gia tham gia sẽ “khước từ sử dụng mọi biện pháp mang tính cưỡng bức đối với quốc gia, thành viên khác, khước từ tiến hành hành vi cưỡng bức về kinh tế”[1] Như vậy, khái niệm vũ lực theo luật quốc tế hiện đại, đã được mở rộng để biểu hiện sử dụng cả các sức mạnh quân sự, kinh tế,… hay đe dọa sử dụng các sức mạnh đó.
c). Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế
Sự hình thành và phát triển của nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế gắn liền với nguyên tắc cấm sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Nói cách khác, nguyên tắc này là hệ quả tất yếu của nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực.
Trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, luật pháp quốc tế cũng ghi nhận một số biện pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp song vào thời điểm đó nguyên tắc này chưa trở thành một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.
Ngày nay, với mục đích đảm bảo hòa bình, an ninh quốc tế và công lý, luật pháp quốc tế đã ghi nhận nguyên tắc này như là một trong những nguyên tắc cơ bản, nền tảng có tính xuyên suốt và bao trùm. Điều này được thể hiện rõ trong khoản 2, Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc; Phần XV Giải quyết các tranh chấp ( Điều 279- Điều 299) Công ước Luật biển 1982 của Liên Hợp Quốc, và hầu hết các điều ước quốc tế đa phương cũng như song phương, điều ước quốc tế khu vực cũng như điều ước mang tính toàn cầu. ..
d). Nguyên tắc dân tộc tự quyết
Ra đời trong thời kỳ cách mạng tư sản,[2]nguyên tắc dân tộc tự quyết đã được thể hiện trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế quan trọng như: Hiến chương Liên hợp quốc, Nghị định 1514 (XV) của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 14-12-1960; Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc về các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia năm 1970…
Khoa pháp lý quốc tế hiện đại về thụ đắc lãnh thổ đã bác bỏ phương thức thụ đắc lãnh thổ như: xâm chiếm, khuất phục, chinh phạt… và lấy “nguyên tắc dân tộc tự quyết” – một trong những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế hiện đại, để làm cơ sở cho việc xem xét vấn đề thụ đắc lãnh thổ. Theo nguyên tắc này thì mọi sự thay đổi về lãnh thổ phải dựa trên ý chí của dân cư sinh sống trên những lãnh thổ đó. Đây là một bước ngoặt lớn trong lịch sử xác lập chủ quyền lãnh thổ nói riêng và sự phát triển của luật pháp quốc tế nói chung.
Tuy nhiên, theo giáo sư người Nga B.M Climeco, thì: “Nguyên tắc dân tộc tự quyết không loại trừ những phương thức xác lập chủ quyền lãnh thổ khác. Hơn thế nữa, trong khi thực hiện quyền dân tộc tự quyết, vẫn có thể sử dụng các phương thức đó như những phương thức bổ trợ” [3]
Quan điểm trên của giáo sư Climeco là hoàn toàn có cơ sở và có thể áp dụng vào việc chọn lựa và sử dụng các phương thức thụ đắc lãnh thổ. Rõ ràng là trên thực tế, không thể áp dụng nguyên tắc dân tộc tự quyết trong mọi trường hợp được, nhất là đối với những vùng lãnh thổ như: Bắc cực, Nam cực, các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, phần Đông Groenland…
Về những lãnh thổ nêu trên, nguyên tắc dân tộc tự quyết không thể áp dụng được, vì vậy các phương thức thụ đắc chủ quyền lãnh thổ khác vẫn có thể được xem xét sử dụng và được coi là hợp pháp.
e). Nguyên tắc chiếm hữu thật sự
Một trong những điều ước quốc tế về chiếm cứ lãnh thổ có ý nghĩa then chốt trong việc đánh giá tính hợp pháp của việc xác lập lãnh thổ là Định ước Berlin năm 1885.
Tại Hội nghị Berlin 1885, các nước thành viên đã thông qua một nghị quyết về Châu Phi, trong nghị quyết có đưa ra nguyên tắc chiếm hữu thật sự, quốc gia được công nhận là chủ sở hữu vùng đất mới nếu ngoài việc phát hiện đầu tiên phải tiếp theo đó các hành động thực tế:
+ Thông báo việc chiếm hữu cho các nước tham gia hiệp định.
+ Duy trì quyền lực một các phù hợp trên lãnh thổ được chiếm hữu.
Định ước chỉ có hiệu lực ở Châu phi và đối với các nước thành viên, nhưng đến năm 1888, Viện Pháp Luật Quốc Tế Lausanne đã ra tuyên bố khẳng định nguyên tắc này, làm cho nguyên tắc này trở nên chiếm ưu thế, phổ biến trên thế giới và được thừa nhận chung. Mặc dù hiệp ước Hiệp ước Saint Germain năm 1919 về chấm dứt sự tồn tại đế quốc Hung và Áo đã tuyên bố huỷ bỏ Định ước berlin 1885 vì lý do trên thế giới không còn lãnh thổ vô chủ nữa, nhưng nguyên tắc này vẫn giữ nguyên giá trị và vẫn được các cơ quan tài phán quốc tế áp dụng trong thực tiễn giải quyết tranh chấp lãnh thổ.
Ngoài các nguyên tắc kể trên, cùng với sự phát triển của các nguyên tắc khác của luật pháp quốc tế: Nguyên tắc tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế; Nguyên tắc bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia…vấn đề “thụ đắc lãnh thổ” trong mọi trường hợp cần phải được xem xét một cách phủ hợp.
Với vai trò là công cụ pháp lý hữu hiệu, mang tính chủ đạo bao trùm và có giá trị ràng buộc, các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế đóng vai trò quan trọng khi xem xét và giải quyết những tranh chấp liên quan đến chủ quyền lãnh thổ. Các nguyên tắc của luật pháp quốc tế là cơ sở để duy trì trật tự pháp lý quốc tế, đồng thời thực hiện hai chức năng: “ổn định các quan hệ quốc tế bằng các quy phạm nhất định và xây dựng những quy tắc xử sự mới trong thực tiễn quan hệ quốc tế”[4].
Như vậy, việc thụ đắc đối với một vùng lãnh thổ bắt buộc phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Có như vậy mới đảm bảo được hòa bình và an ninh thế giới.
2. Các phương thức thụ đắc lãnh thổ
Theo từng thời kỳ phát triển trong học thuyết và thực tiễn quốc tế có nhiều phương thức thụ đắc lãnh thổ với nhiều cách phân chia khác nhau, căn cứ vào những tiêu chí khác nhau. Khoa học pháp lý quốc tế đã từng ghi nhận 4 phương thức thụ đắc lãnh thổ: (1) Thụ đắc lãnh thổ do tác động tự nhiên (Acretion); (2) Thụ đắc lãnh thổ do chuyển nhượng (Cession); Thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu (Acquisitiv Presciption); Thụ đắc lãnh thổ do chiếm hữu (Occupation). . Ngày nay trên thế giới không còn lãnh thổ vô chủ, nhưng các tranh chấp lãnh thổ vẫn còn dai dẳng và các nguyên tắc ,quy phạm về thụ đắc lãnh thổ vẫn còn giá trị soi xet các hành vi thủ đắc của các quốc gia
a) Thụ đắc lãnh thổ do tác động của tự nhiên
Là một phương thức không quá quan trọng và không xảy ra thường xuyên trong thực tiễn, theo đó, một quốc gia mở rộng diện tích lãnh thổ của mình thông qua việc bồi đắp tự nhiên vào lãnh thổ chính hoặc sự xuất hiện của các hòn đảo mọc lên tại vùng biển trong phạm vi đường biên giới của quốc gia. Những vùng đất được bồi đắp hoặc hòn đảo xuất hiện trong vùng lãnh hải của một quốc gia không chỉ trở thành một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, đồng thời, theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, quốc gia đó còn được phép mở rộng đường biên giới quốc gia vì chúng được quyền có lãnh hải rộng 12 hải lý.
b) Thụ đắc lãnh thổ do chuyển nhượng
Là phương thức xác lập chủ quyền lãnh thổ bằng cách chuyển giao một cách tự nguyện, hòa bình chủ quyền lãnh thổ từ một quốc gia này sang một quốc gia khác. Thông thường phương thức chuyển nhượng lãnh thổ này được hợp thức bởi một văn bản điều ước, ký kết giữa hai quốc gia liên quan mà trong đó ghi rõ ràng, cụ thể về vùng lãnh thổ được chuyển nhượng cũng như các điều kiện chuyển nhượng cho tới khi việc chuyển nhượng được hoàn thành. Vì phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chuyển nhượng có hệ quả là chuyển chủ quyền lãnh thổ từ quốc gia này sang quốc gia khác trên một bộ phận lãnh thổ nhất định và quốc gia chuyển nhượng không thể chuyển nhượng nhiều hơn những quyền mà bản thân quốc gia đó có. Đây là một điểm quan trọng đã được đề cập trong một số án lệ giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ, đặc biệt được thể hiện rõ nét nhất trong phán quyết trong vụ tranh chấp đảo Palmas giữa Hà Lan và Hoa Kỳ[5]. Trong phán quyết ngày 3/2/1994 giải quyết tranh chấp về lãnh thổ giữa Libye và Tchad, Tòa công lý quốc tế của Liên hợp quốc cũng cho rằng "việc hoạch định đường biên giới phụ thuộc vào ý chí của các quốc gia trực tiếp có liên quan. Không gì có thể cản trở những quốc gia này tiến hành thỏa thuận để chọn lấy một đường và xác định là đường biên giới chung, không phụ thuộc vào quy chế pháp lý trước đó của đường này. Nếu đó là đường biên giới đã tồn tại, các bên sẽ tiếp tục sử dụng làm đường biên giới. Nếu đó không phải là đường biên giới, các bên hoàn toàn có thể thỏa thuận để ghi nhận và xác lập làm đường biên giới chung"[6].
c). Thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu
Là sự thực hiện thực sự, liên tục và hòa bình trong một thời gian dài và không có sự phản đối của bất kỳ quốc gia nào khác đối với một vùng lãnh thổ không phải là vô chủ, có nguồn gốc thuộc về một quốc gia khác hoặc chưa thuộc về một quốc nào khác do đang còn bị tranh chấp và rất khó để xác định vùng lãnh thổ đó đã thuộc về một quốc gia nào hay chưa. Phương thức thụ đắc lãnh thổ này được hình thành trong thời kỳ mà việc gây chiến tranh xâm lược hoặc việc xâm chiếm bằng vũ lực những vùng lãnh thổ của các nước khác chưa bị ngăn cấm và lên án bởi các quy phạm của luật pháp quốc tế đương thời.
Thụ đắc lãnh thổ theo thời điểm đòi hỏi thực hiện chủ quyền trên thực tế đối với một vùng lãnh thổ trong một thời gian tương đối dài. Tuy nhiên, luật pháp và thực tiễn quốc tế chưa có quy định về thời hạn chung cho các trường hợp xác lập chủ quyền lãnh thổ bằng phương thức này. Luật pháp quốc tế hiện đại cũng không chấp nhận phương thức xác nhập chủ quyền lãnh thổ theo thời hiệu khi các quốc gia sử dụng phương thức này để biện minh cho hành động xâm lược của mình.
Trên thực tế, đã có một số trường hợp một quốc gia đã sử dụng vũ lực để xâm chiếm những vùng lãnh thổ vốn thuộc chủ quyền của một quốc gia khác và thiết lập quyền kiểm soát trên đó rồi áp dụng phương thức thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu, lâu dần biến vùng lãnh thổ đó thành quốc gia của mình. Hành vi này được coi là sự chiếm đoạt lãnh thổ của quốc gia khác một cách bất hợp pháp. Và như vậy, hành vi đó đã cùng một lúc vi phạm cả hai nguyên tắc cơ bản và quan trọng trong luật pháp quốc tế cũng như trong quan hệ quốc tế đó là: “nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực” và “nguyên tắc bất khả xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia”.
d) Thụ đắc lãnh thổ do chiếm hữu
Là hành động của một quốc gia thiết lập và thực hiện quyền lực của mình trên một lãnh thổ vốn chưa thuộc chủ quyền của bất kỳ một quốc gia nào khác hoặc một vùng lãnh thổ vốn đã có chủ sau đó bị bỏ rơi và trở lại trạng thái vô chủ ban đầu.
Đối với vấn đề tranh chấp Biển Đông, đặc biệt tranh chấp về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, luận cứ của các bên tranh chấp đưa ra đều ít nhiều liên quan đến phương thức chiếm hữu. Vì vậy, bài viết này sẽ đề cập nhiều hơn phương thức này nhằm góp phần cung cấp cơ sở lý luận cho việc xem xét đánh giá những yêu sách phi lý của các nước và chứng minh cho luận cứ “chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là không thể tranh cãi” phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế.
Trước hết, cần phân biệt rõ giữa “chiếm hữu” được trình bày ở đây khác với “chiếm đóng quân sự”. “Chiếm hữu” là một phương thức thụ đắc lãnh thổ trong luật pháp quốc tế được áp dụng cho một lãnh thổ vô chủ (terra nullius) hoặc một lãnh thổ vốn trước có chủ sau đó bị bỏ rơi.
Các luật gia quốc tế cũng đều cho rằng không được căn cứ vào việc có người hay không có người ở để xác định sự vô chủ của một vùng đất, mà phải căn cứ vào việc có một tổ chức Nhà nước nào thực sự có ở đó hay không. Trong Từ điển thuật ngữ pháp lý quốc tế, “chiếm hữu” được định nghĩa là “hành động của một quốc gia nhằm xác lập và thực hiện quyền lực… trên một lãnh thổ vốn không phải là của mình”. Trong vụ tranh chấp đảo Cliperton giữa Pháp và Mêhico, Trọng tài quốc tế đã định nghĩa “chiếm hữu” là việc một chính phủ chiếm hữu trên thực tế một lãnh thổ vô chủ với ý định xác lập chủ quyền ở đó”[7]
Việc chiếm hữu lãnh thổ là hành động nhân danh quốc gia hoặc được một quốc gia ủy quyền, không phải là hành động của cá nhân. Mọi hành động mang danh nghĩa cá nhân đều không phải là cơ sở pháp lý để khẳng đinh chủ quyền lãnh thổ và cũng không làm thay đổi bản chất của chủ quyền ngay cả khi các tư nhân đó hợp thành một tập thể hoặc một công ty, trừ những trường hợp khi tập thể đó hoặc công ty đó được Nhà nước ủy quyền xác lập chủ quyền lãnh thổ thay mặt cho Nhà nước.
Nguyên tắc chỉ Nhà nước mới là chủ thể của việc xác lập chủ quyền lãnh thổ đã được thừa nhận một cách rộng rãi. Nguyên tắc này đã được nêu trong bản án ngày 11-02-1902 của Tòa án dân sự Liberville khi xét xử tranh chấp giữa Societé de L’Ogioué và Hatton Cookson: “Một vấn đề có tính nguyên tắc trong luật pháp quốc tế là chủ quyền chỉ dành riêng cho Nhà nước và những cá nhân bình thường không thể thực hiện được một sự chiếm hữu” và “việc chiếm hữu một lãnh thổ vô chủ chỉ có thể là hành động của một quốc gia, một cá nhân hay một công ty không thể xác lập chủ quyền lãnh thổ cho chính họ”[8].
Tuy vậy, kể từ thế kỷ XVII-XIX, một số cường quốc thực dân Pháp, Hà Lan… đã thành lập những công ty về hình thức là kinh doanh kiếm lời song thực chất lại được ủy quyền để đại diện cho Nhà nước xác lập chủ quyền lãnh thổ đối với từng vùng lãnh thổ mới như: Công ty Hà Lan miền Đông Ấn, công ty Pháp miền Tây Ấn…Vai trò của một số công ty này đã được ghi nhận trong một số án lệ giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ.
Mặc dù nguyên tắc “chỉ có Nhà nước mới là chủ thể của việc xác lập chủ quyền lãnh thổ” đã được luật pháp quốc tế thừa nhận, song vẫn có một số học giả Trung Quốc cho rằng cá nhân cũng có quyền xác lập chủ quyền lãnh thổ. Để biện bạch cho lập luận của mình, họ đã đưa ra những học thuyết mơ hồ và chính các học thuyết này cũng không có bất kỳ một lời khẳng định nào là cá nhân có quyền xác lập chủ quyền lãnh thổ mà chỉ nêu chung chung rằng cá nhân chỉ có một vai trò nhất định nào đó mà thôi. Ví dụ, các học giả Trung Quốc dẫn lời của luật gia nổi tiếng người Anh D.P O Connell cho rằng “bản thân hành động của cá nhân không cấu thành hành vi chiếm hữu nhưng nếu không có hành động của cá nhân thì không thể có việc chiếm hữu” [9].
Như đã nói ở trên, đối tượng của “chiếm hữu” là lãnh thổ vô chủ, (terra nullius) hoặc lãnh thổ bị bỏ rơi (terra derelicta) không thuộc chủ quyền của bất kỳ của một quốc gia nào. Trước hết, chúng ta cần xem xét khái niệm “lãnh thổ vô chủ” cũng như phương thức chiếm hữu trong luật pháp quốc tế.
Thực tiễn quan hệ quốc tế đã chỉ rõ: một lãnh thổ tuy có người ở nhưng chưa có một tổ chức nhà nước thì đó là lãnh thổ vô chủ. Cách hiểu này bắt nguồn từ lịch sử của phương thức chiếm hữu nhằm phục vụ cho mục đích xâm lược và bành trướng lãnh thổ của cac nước thực dân trước đây. Trước thế kỷ XIX, các luật gia phương tây cho rằng bất kỳ một lãnh thổ nào vốn không thuộc chủ quyền của một quốc gia văn mình (Civillised State) đều vô chủ, tức bao gồm cả các lãnh thổ chưa có thiết chế Nhà nước hoặc có nhưng bị coi đó là nền văn minh “mọi rợ”, thấp hơn tiêu chuẩn Châu Âu lúc bấy giờ[10]. Ngày nay, luật pháp quốc tế hiện đại với một trong những nguyên tắc cơ bản là quyền “dân tộc tự quyết” đã bác bỏ quan điểm sai trái nêu trên.
Có thể hiểu lãnh thổ vô chủ (terra nullius) là lãnh thổ chưa từng đặt dưới sự quản trị của quốc gia nhất định nào. Nói một cách khác, lãnh thổ đó chưa có một tổ chức quốc gia, có thể có cư dân sống trong vùng lãnh thổ đó nhưng chưa có một tổ chức nhà nước nào trên đó. Sự chiếm hữu lãnh thổ vô chủ là một hình thức thụ đắc hợp pháp. Luật gia Vattel giải thích rằng sự chiếm hữu lãnh thổ vô chủ được căn cứ trên luật tự nhiên của luật dân sự: “Mọi người đều có quyền ngang nhau đối với vật chưa thuộc chủ quyền sở hữu của bất cứ ai, và vật này sẽ thuộc chủ quyền sở hữư của người nào chiếm hữu nó trước nhất”[11].
Trong luật pháp và thực tiễn quốc tế, khái niệm “lãnh thổ bị bỏ rơi” là vùng lãnh thổ trước kia đã từng được chiếm hữu và trở thành lãnh thổ của một quốc gia, nhưng sau đó quốc gia chiếm hữu tự từ bỏ chủ quyền của mình đối với vùng lãnh thổ này. Đa số các luật gia quốc tế cũng cho rằng muốn kết luận một vùng lãnh thổ bị bỏ rơi cần hội tụ đủ hai yếu tố:
+ Quốc gia chiếm hữu đã chấm dứt trên thực tế mọi hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước đối với lãnh thổ.
+ Quốc gia chiếm hữu không có biểu hiện muốn khôi phục lại chủ quyền đối với lãnh thổ đó.
Nếu thiếu một trong hai điều kiện trên thì chỉ có thể kết luận là đã có “sự yếu đuối của chính quyền Nhà nước đối với những vùng đất được nói đến” chứ không phải là “một sự từ bỏ tự nguyện chủ quyền” [12].
Vụ tranh chấp đảo Palmas còn có thể dẫn đến một cách hiểu rằng lãnh thổ bị bỏ rơi (res derelicta) có thể được coi là lãnh thổ vô chủ. Tây Ban Nha là nước phát hiện đảo Palmas nhưng sau đó đã bỏ hòn đảo này, do đó Hà Lan đã tạo ra một danh nghĩa mới trên đó bằng sự chiếm hữu thực tế.
3. So sánh danh nghĩa chiếm hữu tượng trưng với chiếm hữu thực sự
a) So sánh phát hiện và chiếm hữu thực sự
“Phát hiện” được hiểu là sự việc tìm ra hoặc khai phá một vùng đất hoặt một khu vực địa lý cho tới lúc đó chưa từng được một các quốc gia nào biết đến. Phát hiện thường đi kèm với một sự sáp nhập tượng trưng như cắm cờ, xây bia, mốc cắm, thông báo,v.v…
Tuy nhiên vấn đề đặt ra là “phát hiện” không thôi đã đủ để tạo ra một danh nghĩa chủ quyền hay chưa? Nếu như chỉ “phát hiện” mà không có những hành vi xác lập chủ quyền, không có những hoạt động chứng tỏ vùng đất đó đã được quản lý bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì việc “phát hiện” chỉ là phôi thai tạo ra danh nghĩa ban đầu mà thôi. Vì vậy, cần có những hành động xác lập, củng cố và thực hiện chủ quyền quốc gia một cách thực sự trên vùng đất đó bởi cơ quan nhà nước.
Điều này đã được khẳng định trong vụ Hoạch định biên giới giữa Guyane thuộc Anh và Braxil”
“Việc phát hiện ra những đường giao thông mới trong những vùng không thuộc quốc gia nào, bản thân nó không thể tạo ra một danh nghĩa đủ hữu hiệu để quốc gia có các công tác các công dân đã thực hiện việc đó đạt được chủ quyền. Để đạt được chủ quyền, trên một vùng chưa thuộc về quốc gia nào, nhất thiết phải thực hiện việc chiếm hữu nhân danh nhà nước muốn thống trị vùng đó (…)”[13].
Điều này cũng được Max Hubert ghi nhận trong vụ đảo Palmas”
Theo quan điểm sự phát hiện không tạo ra một danh nghĩa chủ quyền hoàn chỉnh, mà chỉ là một danh nghĩa không đầy đủ, quả thực một danh nghĩa như vậy tồn tại mà không cần bất kỳ một biểu hiện nào ra bên ngoài. Tuy nhiên, (…) một danh nghĩa không đầy đủ dựa trên sự phát hiện cần phải được hoàn chỉnh trong thời hạn hợp lý bằng cách chiếm hữu thực sự”.
Bên cạnh giá trị củng cố cho danh nghĩa ban đầu, sự chiếm hữu thực tế còn có thể tạo ra một danh nghĩa độc lập như quan tòa Max Hubert đã tuyên bố trong vụ đảo Palmas:
“(…) thực tiễn cũng như học thuật công nhận, mặc dù bằng những cách diễn đạt pháp lý khác nhau và có đôi chút khác biệt về các điều kiện cần thiết, việc thực hiện chủ quyền quốc gia một cách liên tục và hòa bình tạo ra một danh nghĩa”[14].
Trong trường hợp tranh chấp, danh nghĩa có được dựa trên sự chiếm hữu thực tế bao giờ cũng có giá trị hơn danh nghĩa có được trên sự phát hiện, chinh phục, chuyển nhượng… Phán quyết trong vụ đảo Palmas nêu rõ:
“Nếu một tranh chấp nảy sinh về chủ quyền trên một lãnh thổ, ta thường xem xét bên tranh chấp nào có danh nghĩa – chuyển nhượng, chinh phục, chiếm hữu... – có giá trị hơn danh nghĩa mà bên kia có thể đưa ra. Tuy nhiên, nếu một bên dựa trên luận điểm là đã thực hiện chủ quyền một cách thực sự, còn bên kia chỉ dựa trên một danh nghĩa mà nhờ nó đã đạt được chủ quyền quốc gia một cách hợp pháp vào một thời điểm nào đó thôi thì chưa đủ; còn cần phải chứng tỏ rằng chủ quyền quốc gia tiếp tục tồn tại và đã tồn tại vào thời điểm được coi là có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết tranh chấp. Điều này thể hiện trong việc thực hiện thực sự những hoạt động nhà nước chỉ thuộc về nhà nước chủ quyền lãnh thổ mà thôi”[15].
Trong vụ này, Trọng tài quốc tế đã kết luận chủ quyền trên đảo Palmas thuộc về Hà Lan do nước này đã thực hiện chiếm hữu thực sự, mặc dù Tây Ban Nha đã phát hiện ra hòn đảo này. Trong vụ Đông Grơnlen, Tòa án quốc tế đã khẳng định lại giá trị hơn hẳn của “sự thực hiện chủ quyền nhà nước một cách hòa bình và liên tục”.
Trong vụ Clipperton, trọng tài cho rằng sự sáp nhập tượng trưng là đủ để tạo ra một danh nghĩa, nhưng chỉ trong một hoàn cảnh đặc biệt (hòn đảo hoàn toàn không có người cư trú):
“Không còn nghi ngờ gì nữa, bằng sự sử dụng từ xa xưa có giá trị pháp lý, cùng với ý định chiếm hữu vật chất, không phải chiếm hữu một cách tưởng tượng, là một điều kiện cần thiết của sự chiếm hữu. Việc chiếm hữu vật chất này thể hiện bằng hành vi hay chuỗi hành vi, bằng những hành vi này quốc gia chiếm hữu sử dụng lãnh thổi đang tranh chấp và thực hiện biện pháp bảo vệ thẩm quyền tuyệt đối của mình ở đó. Theo qui tắc và trong những trường hợp thông thường, điều này chỉ xảy ra khi quốc gia thiết lập trên lãnh thổ đó một tổ chức có đủ khả năng bảo vệ sự tôn trọng luật lệ của quốc gia đó, nhưng biện pháp này chỉ là một phương tiện để tiếp tục sự chiếm hữu, hơn nữa không phân biệt với sự chiếm hữu này. Có thể có những trường hợp không nhất thiết phải sử dụng phương tiện này. Đó chính là trường hợp một lãnh thổ, vì hoàn toàn không có người cư trú, thuộc về một nước một cách tuyệt đối ngay từ thời điểm quốc gia đó xuất hiện trên lãnh thổ đó, việc chiếm hữu phải được coi là hoàn thành từ thời điểm đó”[16].
Trong vụ tranh chấp này giữa Mêhicoo và Pháp, cũng cần phải lưu ý rằng Mêhicô đã không thể đưa ra một bằng chứng cụ thể nào về sự phát hiện, sự sáp nhập dù là tượng trưng hay sự có mặt trên thực tế của Mêhicoo cũng như Tây Ban Nha trên hòn đảo này. Khi đó, sự phát hiện và sự sáp nhập tượng trưng của Pháp trong hoàn cảnh hòn đảo hoàn toàn không có người cư trú đã được coi là một danh nghĩa có giá trị hơn các danh nghĩa và Mêhicô đưa ra.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp lãnh thổ tại tòa án và trọng tài đã chứng tỏ tầm quan trọng của sự chiếm hữu thực sự trong việc quy thuộc lãnh thổ. Đánh giá sự tiến bộ hơn hẳn này, GS Charles Rousseu viết:
“Trong mọi trường hợp hiệu lực của quyền phát hiện chỉ là cung cấp sự khởi đầu của một danh nghĩa hoặc theo cách diễn đạt của người Anh, tạo nên một danh nghĩa ban đầu (inchoate title), có nghĩa là một danh nghĩa phôi thai và chỉ có giá trị tạm thời để gạt bỏ ngay lập tức, nhưng không phải là mãi mãi các tham vọng tranh đua của một nước thứ ba trên cùng một lãnh thổ… Vì luật pháp quốc tế không ấn định rõ khoảng thời gian trong đó quyền ưu tiên này có thể được viện dẫn, do đó chính quyền phát hiện này bản thân nó tác động chống đối các quốc gia thứ ba. Đó chỉ có thể là những hành vi tượng trưng mà các quốc gia thứ ba từ chối không công nhận hiệu lực pháp lý trừ phi chúng được củng cố tiếp theo bởi một sự chiếm cứ lâu dài”[17].
Qua các án lệ trong luật pháp quốc tế, có thể thấy rằng “chiếm hữu thực sự” được đánh giá có giá trị hơn hẳn danh nghĩa “phát hiện”. Trong tranh chấp quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam và các nước khác, rõ ràng Việt Nam đã chiếm hữu một cách thực sự, lâu dài trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Còn Trung Quốc và các bên tranh chấp khác chỉ đưa ra được những chứng cứ mơ hồ về việc họ đã phát hiện ra hai quần đảo.
b). Các điều kiện chiếm hữu thực sự
Các hành vi được coi là chiếm hữu thực sự cần phải thỏa mãn những điều kiện sau đây:
- Do các nhân viên của Nhà nước hoặc một tổ chức công cộng thực hiện nhân danh Nhà nước.
- Mang tính thực sự (effectivité).
- Với ý định chiếm hữu lãnh thổ đó.
- Không theo một cách trái với luật pháp quốc tế đương đại.
Trước hết, hành động được coi là chiếm hữu thực sự phải do Nhà nước thực hiện, thông qua người hoặc tổ chức có khả năng đại diện cho Nhà nước. Trong lịch sử, ngoài các nhân viên của nhà nước, các tổ chức công cộng có thể hiện sự chiếm hữu nhân danh nhà nước, các tổ chức công cộng có thể thực hiện sự chiếm hữu nhân danh nhà nước. Đó là trường hợp các công ty của một số nước châu Âu như Anh, Pháp, Hà Lan… được thành lập để “chinh phục các miền đất mới” và khai thác chúng.
Việc một hoặc nhiều cá nhân là công dân của một nước thực hiện hành vi chiếm hữu với tư cách cá nhân sẽ không tạo ra một danh nghĩa chủ quyền cho nhà nước đó. Ngay cả trong trường hợp có nhiều người dân của một nước đến cư trú, sinh sống, làm ăn, khai thác, trao đổi buôn bán… trên một vùng đất, điều đó cũng không thể hiện chủ quyền của nhà nước.
Các án lệ từ lâu đã ghi nhận rằng sự chiếm hữu mang tính chất thuần túy tư nhân không đủ để tạo ra một danh nghĩa chủ quyền:
“Nhận thấy rằng, mặc dù những người dân ỏ Saint Eustache thuộc Hà Lan đi bắt rùa và thu lượm trứng ở đảo Aves, sự việc này không thể củng cố quyền chủ quyền, vì điều đó chỉ nói lên sự xâm chiếm hòn đảo một cách tạm thời, không ổn định, hơn nữa trong trường hợp này đó không phải là biểu hiện của một quyền tuyệt đối, mà chỉ là hậu quả của những người dân nước láng giềng hoặc người chủ hợp pháp ngừng việc đánh bắt và thu lượm”.
Trong vụ tranh chấp biên giới giữa Guyan thuộc Anh và Braxil, trọng tài đã nhấn mạnh:
“(…) muốn đạt chủ quyền trên một vùng chưa hề thuộc về quốc gia nào, nhất thiết phải thực hiện chiếm hữu nhân danh nhà nước, tuyên bố chiếm hữu này chỉ được coi là hoàn thành khi có sự chiếm hữu một cách thực sự liên tục và bền vững nhân danh nhà nước(…)”[18].
Viện Luật quốc tế cũng đưa ra qui định sự chiếm hữu phải được thực hiện nhân danh nhà nước trong Dự thảo tuyên bố quốc tế về việc chiếm hữu lãnh thổ năm 1888.
Điều kiện thứ hai để việc chiếm hữu lãnh thổ là chiếm hữu thực sự thì việc chiếm hữu này phải là biểu hiện của những hành vi chủ quyền thực chất và hiệu quả. Trong Điều 35 Định ước Hội nghị Berlin ngày 26-2-1985, thậm chí các quốc gia còn cam kết với nhau nghĩa vụ “đảm bảo, trên tất cả các lãnh thổ mà nhà nước đó chiếm, trên các bờ biển lục địa châu Phi, sự tồn tại của một cơ quan quyền lực đủ khả năng đảm bảo sự tôn trọng trong các quyền đã có và nếu cần, đảm bảo tự do thương mại và đi lại nếu sự tự do đó được qui định”[19].
Phán quyết về Đông Groenland cũng nêu rõ:
“(…) có lẽ cần phải chỉ ra rằng một đòi hỏi về chủ quyền dựa trên sự thực hiện liên tục quyền lực bao gồm hai yếu tố cần phải được chứng minh là có sự tồn tại: ý định và ý thức hành động với tư cách nhà nước và một số biểu hiện hoặc việc thực hiện thực sự quyền lực này”[20].
Hành vi chủ quyền là những hành vi cụ thể để thực hiện quyền lực nhà nước, đặc trưng cho nhà nước. Những hành vi chủ quyền này có thể là những hành vi pháp lý khác nhau liên quan đến lãnh thổ: thực hiện quyền tài phán xét xử, cho phép hoặc không cho phép khai thác tài nguyên, thu thuế…
Về số lượng, các hành vi thể hiện chủ quyền không nhất thiết phải được thể hiện một cách thường xuyên. Mức độ thường xuyên này phải phù hợp với yêu cầu duy trì các quyền đã có, điều này liên quan đến một số yếu tố như Trọng tài Max Hubert đã ghi nhận:
“Mặc dù liên tục về nguyên tắc, chủ quyền không thể thực hiện trên thực tế vào tất cả mọi lúc, ở mọi điểm trên lãnh thổ. Tính lẻ tẻ và không liên tục phù hợp với việc duy trì các quyền đã có, không giống nhau tùy theo đó là vùng có người ở hay không có người ở, hoặc vùng bao quanh bởi một lãnh thổ khác trên đó có chủ quyền của một nhà nước khác, hay là những vùng xung quanh là biển”[21].
“Không thể đòi hỏi phải có những biểu hiện của chủ quyền thường xuyên trên một hòn đảo nhỏ bé, hẻo lãnh, chỉ có người bản xứ sinh sống(…)”[22].
Điều kiện thứ ba của chiếm hữu thực sự là ý định chiếm hữu lãnh thổ đó cho quốc gia. Điều kiện này cũng đã được ghi nhận trong vụ Đông Groenland.
Nếu trong khi có mặt và thực hiện một số hành vi trên một vùng lãnh thổ, quốc gia không có ý định chiếm hữu và sáp nhập lãnh thổ đó thì những hành vi đó không thể tạo ra danh nghĩa chủ quyền cho quốc gia. Như vậy, những hành vi như đo đạc thiên văn, đi thám hiểm…mà không thể hiện ý định chiếm hữu lãnh thổ cho nhà nước không được coi là chiếm hữu thực sự.
Điều kiện thứ tư của chiếm hữu thực sự là việc chiếm hữu phải được tiến hành phù hợp với các qui phạm pháp luật đương thời. Cụ thể, theo luật pháp quốc tế hiện đại, việc chiếm hữu không được coi là thực sự nếu vi phạm quyền dân tộc tự quyết và nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực.
Bên cạnh các điều kiện trên, một số văn bản như Định ước Berlin năm 1885 hoặc dự thảo Tuyên bố quốc tế về việc chiếm hữu lãnh thổ năm 1888 qui định cần phải thông báo hoặc công khai hóa sự chiếm hữu. Tuy nhiên, đây chỉ là một quy định có tính chất thỏa thuận và sau đó không được coi là điều kiện cần thiêt đối với việc chiếm hữu thực sự. Trong vụ đảo Clipperton, trọng tài cho rằng Hiệp ước chung Berlin năm 1885 chỉ áp dụng cho nước ven bờ biển châu Phi và chỉ ràng buộc các kên ký kết, hơn nữa lại không có giá trị hồi tố nên không thể áp dụng cho trường hợp Pháp chiếm đảo này. Do đó, việc Pháp công khai hóa việc chiếm hữu hòn đảo không ảnh hưởng tới chủ quyền của Pháp trên hòn đảo này[23].
4. Vai trò của việc công nhận, không phản ứng, nguyên tắc estopel
a) Công nhận
Trong công pháp quốc tế, công nhận được hiểu là một hành vi đơn phương của một quốc gia chấp nhận một tình huống thực tế hoặc một tình huống pháp lý. Theo Charles de visscher, sự công nhận có ý nghĩa cấu thành vì chấm dứt tình trạng chính trị không chắc chắn và thay vào đó là một tình trạng pháp luật rõ ràng.
Công nhận trong các vấn về lãnh thổ gồm công nhận biên giới và công nhận danh nghĩa chủ quyền một vùng lãnh thổ. Công nhận có thể do quốc gia chung đường biên giới hoặc cùng yêu sách đối với cùng một lãnh thổ do bên thứ ba tiến hành. Do bản chất song phương của sự công nhận và tính ý nghĩa pháp lý trong quan hệ quốc gia công nhận và quốc gia mong đợi sự công nhận. Vì vậy, nếu bên thứ ba công nhận chủ quyền của một bên, sự công nhân đó không nhất thiết tạo ra, làm biến mất hoặc thay đổi chủ quyền và nghĩa vụ của bên tranh chấp kia.
Tùy theo tình huống, công nhận có thể tạo ra một tình trạng pháp lý mới hoặc chỉ mang tính chất tuyên bố về một tình trạng đã tồn tại. Việc công nhận một tình huống vi phạm mệnh lệnh của luật pháp quốc tế bị coi là không có giá trị pháp lý. Theo Điều 53 Công ước Viên về luật điều ước quốc tế: quy phạm mệnh lệnh của luật quốc tế được toàn bộ cộng đồng quốc tế và các quốc gia công nhận như một quy phạm không cho phép bất cứ sự loại trừ nào và chỉ có thể sửa đổi bởi một quy phạm luật quốc tế có cùng giá trị. Các quốc gia không thể thỏa thuận với nhau để không tuân theo một quy phạm mệnh lệnh. Tương tự như vậy, một quốc gia không thể công nhận một hành vi của một quốc gia khác trái với một quy phạm mệnh lệnh hay tình huống do hành vi đó gây ra. Sự công nhận của chính nạn nhân, trên nguyên tắc cũng không thể hợp pháp hóa vi phạm với jus cogens.
b) Không phản ứng
Không phản ứng là một việc một quốc gia giữ im lặng hoặc không phản ứng, và quốc gia đó là chính chủ thể bị xâm phạm quyền. Không phản ứng khác với công nhận ở chổ: công nhận là một hành vị tích cực của một bên thể hiện ý định từ bỏ quyền phản đối, còn không phản ứng là sự không hành động cho một bên mất đi quyền phản đối.
Chỉ khi một quốc gia ý thức được đầy đủ rằng quyền của mình bị xâm phạm hoặc đe dọa bị xâm phạm thì không phản ứng của bên đó mới được coi là sự chấp nhận quyền của bên kia hoặc sự từ bỏ quyền của mình.
Trong vụ Đông Grơnlen, tòa án quốc tế ghi nhận sự không phản đối của Nauy đã củng cố cho danh nghĩa đạt được của Đan Mạch đối với vùng Đông Grơnlen:
“Chủ quyền của Đan Mạch đã thể hiện từ lâu trong một chuỗi hành vi có tính quốc tế và trong các điều khoản pháp luật mà nội dung đã được nhiều nước liên quan biết, và chưa bao giờ bị phản đối”.
c) Nguyên tắc estoppel
Theo nguyên tắc này, một quốc gia phải nhất quán trong ứng xử và không được bác bỏ một thực tế đã được chính quốc gia này thừa nhận trước đó. Mục tiêu chính của nguyên tắc này là không cho phép một quốc gia được hưởng lợi hoặc gây thiệt hại cho một quốc gia khác thông qua cách ứng xử không nhất quán của mình. [24]. "Estoppel có thể được suy diễn từ một thái độ, những lời tuyên bố của một quốc gia nhằm chấp nhận một tình trạng nào đó; thái độ hoặc lời tuyên bố không những phải được thực hiện một cách rõ ràng và liên tục, mà còn phải khiến cho một hoặc nhiều quốc gia khác dựa vào đó mà thay đổi hoạt động và phải chịu thiệt hại"[25].
Các luật gia đều cho rằng, ngầm công nhận trong một tình huống nhất định sẽ dẫn đến estoppel. Nếu quốc gia đã biết rõ về một sự việc cụ thể song vẫn giữ im lặng thì việc im lặng đó phải được giải thích là sự đồng ý, chấp nhận và sẽ không đưa đòi hỏi ngược lại. Các luật gia cũng khá thống nhất trong quan điểm gắn việc ngầm công nhận với estoppel khi giải quyết tranh chấp lãnh thổ và cho rằng trong tranh chấp lãnh thổ, việc ngầm công nhân sẽ đồng nghĩa với estoppel nếu:
- Các bên tranh chấp lãnh thổ đều đưa ra các yêu sách trái ngược nhau.
- Các bên đều biết rõ các yêu sách của nhau.
- Một bên giữ im lặng hoặc không có ý kiến hay hành động gì trước yêu sách của đối phương và như vậy bị mất đi quyền của mình.
d) Chủ quyền của quốc gia đối với một vùng lãnh thổ là một phạm trù không chỉ mang tính pháp lý mà còn mang tính lịch sử. Việc quốc gia chiếm hữu và thực thi chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ được hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, các tranh chấp về chủ quyền lại có những mầm mống phát sinh từ lâu đời.
Trong luật pháp và thực tiễn quốc tế còn tồn tại một nguyên tắc là “Luật đương đại” (Intertemporal Law) được áp dụng để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ có nguồn gốc từ những thế kỷ trước đây. Theo nguyên tắc “Luật đương đại”, không thể đòi hỏi một quốc gia trong quan hệ quốc tế của mình ở thế kỷ XVII phải tuân thủ pháp luật của thời đại ngày nay. Vì vậy khi xem xét các sự việc xảy ra vào thời điểm nào cần thấy phải áp dụng pháp luật của thời điểm đó. Luật đương đại có nội dung cơ bản như sau: Một sự kiện pháp lý phải được đánh giá dưới ánh sáng của pháp luật ở thời điểm xảy ra sự kiện đó chứ không được sử dụng pháp luật của thời điểm tranh chấp nảy sinh hoặc được giải quyết.
Giáo sư luật quốc tế người Nga, B.M Climeco đã viết: “Khi giải quyết các vụ tranh chấp lãnh thổ thì một trong những yếu tố quan trọng cần làm sáng tỏ là việc đánh giá những sự kiện đã xảy ra từ rất lâu, do vậy nảy dinh vấn đề là phải đánh giá những sự kiện ấy theo pháp luật của thời đại nào. Các luật gia đều nhất trí rằng không thể đòi hỏi một quốc gia tồn tại ở thế kỷ 15 phải tuân thủ pháp luật của thế kỷ 20 trong quan hệ quốc tế cho dù “trong nhiều trương hợp, luật pháp quốc tế tại thời điểm này là vô nhân đạo, và không công bằng song khi đó, không có luật pháp quốc tế khác”[26].
Như vậy, qua việc phân tích các phương thức xác lập chủ quyền lãnh thổ và đi sâu nghiên cứu phương thức chiếm hữu trong lý luận và thực tiễn pháp lý quốc tế, căn cứ vào các bằng chứng lịch sử và pháp lý có thể thấy Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã xác lập và thực hiện chủ quyền của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, là phù hợp với thực tế lịch sử và luật pháp quốc tế.
5. Một số vấn đề pháp lý khác có thể vận dụng nhằm xác định chủ quyền trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tính chất của các luận điểm mà các quốc gia tranh chấp đưa ra đối với các đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam hết sức tinh vi, phức tạp và mơ hồ. Để thực sự khách quan, khoa học và công bằng, khi giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông, đặc biệt tranh chấp hai quần đảo Hoang Sa và Trường Sa, không những phải dựa trên cơ sở các nguyên tắc chiếm cứ lãnh thổ hợp pháp mà còn phải xem xét vận dung nguyên tắc về kế thừa quốc gia, về xác lập chủ quyền mở rộng lãnh thổ theo Công ước luật biển 1982, về nguyên tắc kề cận địa lý,v.v...
a) Vấn đề kế thừa quốc gia
Kế thừa quốc gia được đặt ra khi có sự thay đổi triệt để về chủ quyền của một quốc gia trên vùng lãnh thổ nhất định. Công ước Viên về kế thừa quốc gia ngày 22/8/1978 và Công ước Viên về kế thừa tài sản, hồ sơ lưu trữ, công nợ quốc gia ngày 07/4/1983 xác định kế thừa quốc gia là thuật ngữ chỉ sự thay thế của một quốc gia này cho một quốc gia khác trong việc hưởng quyền và gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với lãnh thổ nào đó. Các quốc gia mới giành được độc lập không nhất thiết phải tôn trọng các điều ước trước đó. Việc kế thừa do quốc gia mới quyết định. Vì vậy, nghiên cứu việc kế thừa quốc gia phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể.
Ví dụ: trong Hiệp định Paris ngày 10/12/1898 giữa Mỹ và Tây Ban Nha về việc chuyển giao Philippin cho Mỹ đã xác định phạm vi quần đảo Philippin trên bản đồ kèm theo Hiệp định, trong đó biên giới phía tây đi qua kinh tuyến 1180 đông (quần đảo Trường Sa từ kinh tuyến 111,20 đông đến 117,20 đông), như vậy lúc đó Philippin nằm ngoài quần đảo Trường Sa. Nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa đánh giá yêu sách chủ quyền của các nước, trong đó có Philippin,v.v.v...
b). Hành vi pháp lý đơn phương của một quốc gia được xem xét khi giải quyết tranh chấp.
Hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia chỉ có ý nghĩa đối với pháp luật quốc tế khi được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải phù hợp với pháp luật quốc tế, nhằm tạo ra một kết quả nhất định trong quan hệ quốc tế.. Ngày nay thường thấy các tuyên bố của bộ ngoại giao về các vấn đề xảy ra trong đời sống quốc tế, ví dụ trước việc Trung Quốc ban hành lệnh cấm đánh bắt cá tại một số vùng biển, trong đó có những khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, là trái pháp luật quốc tế
c). Vấn đề mở rộng chủ quyền theo Công ước Luật biển 1982
Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển ngày 10/12/1982, có hiệu lực kể từ ngày 16/11/1994 sau khi được 60 quốc gia phê chuẩn. Các quốc gia tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa đều là thành viên của Công ước, Trung Quốc, Malaysia và Brunei phê chuẩn năm 1996, Việt Nam năm 1994, và Philippines năm 1984[27].
Theo quy định của pháp luật Quốc tế, ngoài việc xác lập lãnh thổ đối với vùng đất vô chủ, quốc gia ven biển được mở rộng chủ quyền và quyền chủ quyền ra các vùng biển theo nguyên tắc nhất định. Những quy định về hoạch định lãnh hải, đặc quyền kinh tế, đảo và thềm lục địa... của quốc gia và giữa các quốc gia có bờ biển đối diện, liền kề được quy định trong Công ước Luật Biển 1982. Nội dung này giúp cho việc đánh giá khách quan vùng yêu sách bản đồ 9 vạch (đường lưỡi bò) là trái với thực tiễn và pháp luật quốc tế của Trung Quốc.
d. Vấn đề xác lập lãnh thổ do kề cận địa lý
Thực tiễn lãnh thổ quốc gia không nhất thiết phải liền kề nhau, ví dụ bang Alaska tách rời các bang khác của Hoa Kỳ. Trong vụ tranh chấp thềm lục địa Biển Bắc giữa Đức với Đan Mạch và Đức với Hà Lan (1969), tính kề cận địa lý không có giá trị mà sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ ra biển mới mang lại danh nghĩa chủ quyền cho quốc gia có thềm lục địa đó. Ý nghĩa của nguyên tắc này cũng góp phần giúp cho việc đánh giá một cách khách quan, công bằng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời vạch trần những luận điểm mở hồ mang tính áp đặt trong yêu sách của Trung Quốc và các nước khác đối với Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam./.
PGS.TS. Nguyễn Bá Diến, Giám đốc Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế, Khoa Luật,
[1] Giáo trình Công pháp quốc tế, Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, trang 35.
[2] Giáo trình Công pháp quốc tế, Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, trang 44.
[3] Báo cáo khoa học – Đề tài nhánh Các hình thức thụ đắc lãnh thổ, Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội, năm 1998, trang 11.
[4] Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Công pháp quốc tế, NXB Công an nhân dân, trang 30.
[5] Báo cáo khoa học – Đề tài nhánh Các hình thức thụ đắc lãnh thổ, Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội, năm 1998
[6] Phán quyết của Tòa công lý quốc tế ngày 3/2/1994 trong vụ Tranh chấp lãnh thổ giữa Libye và Tchad, Tuyển tập các phán quyết của Tòa công lý quốc tế, 1994, tr. 23, § 45.
[7] Báo cáo khoa học – Đề tài nhánh Các hình thức thụ đắc lãnh thổ, Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội, năm 1998.
[8] Triệu Thành Nam, Thụ đắc lãnh thổ trong luật pháp quốc tế và tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Luận văn tốt nghiệp, Học viện quan hệ quốc tế - Bộ Môn Luật, trang 7.
[12] Triệu Thành Nam, Thụ đắc lãnh thổ trong luật pháp quốc tế và tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Luận văn tốt nghiệp, Học viện quan hệ quốc tế - Bộ Môn Luật, trang 9.
[24] Phán quyết của Tòa công lý quốc tế ngày 20/2/1969, Tuyển tập các phán quyết của Tòa công lý quốc tế, 1969, tr. 26.
[25] Phán quyết của Tòa công lý quốc tế giải quyết tranh chấp giữa Mỹ và Nicaragua trong vụ Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua, Tuyển tập các phán quyết của Tòa công lý quốc tế, 1984, tr. 414.
[26] Báo cáo khoa học – Đề tài nhánh Các hình thức thụ đắc lãnh thổ, Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội, năm 1998.
[27] “Chronological lists of ratifications of, accessions and successions to the Convention and the related Agreements”, http://www.un.org/Depts/los/reference_files/chronological_lists_of_ratifications.htm
Bài viết của GS. Gerardo M. C. Valero, Giám đốc Khoa sau đại học, Trường Luật, Đại học Connecticut, Mỹ, nhận định các quy định của luật pháp quốc tế truyền thống về thụ đắc lãnh thổ không giúp cho việc giải quyết vấn đề tranh chấp Trường Sa và tạo lập khuôn khổ cho việc hợp tác tại đây. Ngược lại, các quy định này thúc đẩy các quốc gia liên quan đến tranh chấp tăng cường các bước đi đơn phương về pháp lý, qua đó đẩy tình hình thêm căng thẳng về chính trị và quân sự.
------------------------------------
Giới thiệu
Trước đây, trong quá khứ chưa bao giờ mối quan tâm về vấn đề chồng lấn lãnh thổ và quyền tài phán ở vùng Biển Đông lại trở nên căng thẳng như trong ba thập kỷ vừa qua của thế kỷ hai mươi này. Do đó từ lâu được công nhận là một vùng đánh cá giàu có và là con đường hàng hải quan trọng nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, Biển Đông lại trở thành trọng tâm chú ý của quốc tế vào những năm 1970, khi các công trình nghiên cứu địa chất và khảo sát địa vật lý nêu những giả thuyết chắc chắn về sự tồn tại của các mỏ dầu và khí tự nhiên lớn ở đáy biển. Kể từ đó, các nước ở vùng Biển Đông ngày càng vướng thêm vào rắc rối của những tuyên bố đơn phương mâu thuẫn với nhau, ở những mức độ cạnh tranh khác nhau về việc kiểm soát vùng nước của khu vực và việc sử dụng các nguồn tài nguyên sinh vật và không sinh vật.
Những yêu sách mâu thuẫn này trước tiên do những mối quan tâm kinh tế chi phối bao gồm cả sự phát triển của các nguồn hydrocarbon tiềm năng[1] Tuy nhiên, những sự kiện sau năm 1990, đặc biệt là sự sụp đổ của Liên Xô cũ và việc Hoa Kỳ rút khỏi những căn cứ quân sự và hải quân ở Philippin trên bờ phía Đông của Biển Đông, đã khiến cho những nhà hoạch định chính sách của các quốc gia yêu sách phải xem xét lại tác động liên quan đến an ninh quốc gia và sự ổn định chính trị đối với các yêu sách về chủ quyền lãnh thổ và mở rộng quyền tài phán trên biển ở khu vực Biển Đông.
Các biến chuyển trên đây đã khiến cho những chính phủ có quan tâm phải tổ chức một cách có hệ thống và liên tục củng cố địa vị pháp lý của họ hỗ trợ cho tính chất hợp lệ của những yêu sách này. Trong nỗ lực đưa ra những lý lẽ để đạt được sự công nhận của quốc tế về những yêu sách tài phán và lãnh thổ tương ứng của họ, các quốc gia yêu sách đã dựa vào rất nhiều công thức pháp lý rút ra từ những bằng chứng về thực tiễn của các quốc gia hiện nay, sự phân xử quốc tế và tài phán trọng tài cũng như từ những khái niệm được phát triển trong quá trình Hội nghị luật biển do Liên hợp quốc tổ chức. Cũng vì vậy, hành động của các quốc gia trong việc thực thi những luận điểm pháp lý mà họ tuyên bố đã tạo ra một bức tranh chi tiết để quan sát xem một phạm vi rộng lớn những vấn đề bàn cãi liên quan đến việc sử dụng nguồn tài nguyên đại dương được giải quyết theo tập quán như thế nào. Đây là những vấn đề trong những khúc mắc liên quan đến việc vạch đường cơ sở quần đảo, xác định giới hạn thực hiện quyền đi qua eo biển, đến việc phân định biên giới giữa hai hay nhiều quốc gia có yêu sách chồng lấn về quyền tài phán đối với không gian biển và thẩm quyền đối với các nguồn tài nguyên biển[2].
Trong số các vấn đề khu vực được quan tâm có lẽ vấn đề phân định ranh giới biển là vấn đề gay cấn nhất, bởi vì hiện nay vấn đề này đang được xem xét dưới góc độ xác định giới hạn những yêu sách đơn phương chồng lấn về chủ quyền đối với một loạt các đảo, hòn, cồn và đá nằm rải rác suốt chiều rộng của Biển Đông.
Singapore và Malaysia đang tranh chấp về quyền sở hữu đối với đảo Pisang và Pulau Batu Putih (“Đá Trắng”) ở vĩ tuyến 1019,8’ Bắc và kinh tuyến 104024,4’ Đông làm nền đỡ cho ngọn hải đăng Horsburgh ở vùng nước đông đúc và có tầm quan trọng chiến lược của các eo biển Malacca và Singapore. Indonesia và Việt Nam thì đang tranh cãi về quyền sở hữu đối với đảo Natuna nằm ngoài khơi bờ biển phía Tây Bắc đảo Kalimantan của Indonesia ở khoảng 40kể từ đường xích đạo[3]. Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam, mỗi bên đang ra sức chống lại yêu sách của các bên còn lại về chủ quyền đối với nhóm đảo Hoàng Sa nằm giữa vĩ tuyến 160 và 170, cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 150 hải lý về phía Đông Nam. Đài Loan cũng đang tranh chấp với Trung Quốc về yêu sách với đảo Pratas, nằm cách Đài Loan 240 hải lý về phía Tây Nam từ vĩ tuyến 200 30” đến 210 31” B. và từ kinh tuyến 1160 đến 1170 Đ. và bãi ngầm Trung Sa, nằm cách quần đảo Hoàng Sa 100 km về phía Đông từ vĩ tuyến 150 20’ đến 160 20 B. và từ kinh tuyến 1130 40” đến 1150 Đ. Cuối cùng, 5 bên - Trung Quốc , Malaysia, Philippin, Đài Loan và Việt Nam - hiện đang yêu sách ít nhất là một số đảo thuộc một quần đảo được đề cập đến với cái tên là Spratlys[4] (Trường Sa) là một phần lãnh thổ của họ.
Việc thực sự chiếm hữu lãnh thổ yêu sách được coi là có tầm quan trọng đặc biệt và hiện nay, mỗi bên yêu sách đều duy trì sự hiển diện quân sự của họ trên ít nhất là một đảo thuộc quần đảo này[5]. Việc quân sự hoá khu vực này đã được đẩy mạnh kể từ đầu những năm 1970, khi Philippin cử hải quân lên chiếm giữ đảo Thị Tứ[6]. Nước Cộng hoà miền Nam Việt Nam sau này, với tư cách là người kế thừa chính phủ thực dân Pháp đã bắt đầu thiết lập sự có mặt về quân sự của họ trong khu vực vào năm 1974, khi lực lượng của họ đã chiếm giữ năm đảo trong quần đảo Trường Sa, sau khi bị mất quyền chiếm hữu nhóm đảo Lưỡi Liềm nằm ở phía tây của quần đảo Hoàng Sa kéo về phía Bắc của quần đảo Trường Sa[7] về tay Trung Quốc. Trung Quốc đã thiết lập sự có mặt của mình ở quần đảo Trường Sa bằng cách chiếm tám đảo trước đó Việt Nam đang chiếm giữ bằng một cuộc đụng độ hải quân kéo dài hai ngày vào tháng 3/1988, đó là cuộc đụng độ hải quân trầm trọng nhất ở khu vực Trường Sa kể từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới II[8].
Một phần lớn tài liệu có được về tình hình quần đảo Trường Sa xem xét tới căn cứ lịch sử của những yêu sách đối kháng về chủ quyền lãnh thổ mà các quốc gia có lợi ích này khẳng định và sau đó, phân tích tính vững vàng của những luận điểm pháp lý được đề xuất để bảo vệ quan điểm của họ. Tuy nhiên, có một cuộc bàn cãi thứ hai do những yêu sách này tạo ra chưa được đưa ra phân tích ở một mức độ tương xứng.
Những đảo tạo thành quần đảo Trường Sa, về bản chất, một mặt quá nhỏ và quá cằn cỗi để có thể duy trì một cuộc sống ổn định và lâu dài và mặt khác, không có dấu hiệu phân biệt đáng kể nào về nguồn tài nguyên thiên nhiên trên bờ[9].Tuy nhiên, chúng lại được coi là có tầm quan trọng chiến lược về quyền lợi kinh tế và chính trị của các quốc gia ven Biển Đông, trước hết theo nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi của tập quán và luật biển quốc tế, các đảo này có thể được dùng làm điểm cơ sở để từ đó các quốc gia có thể mở rộng yêu sách của họ về thẩm quyền tài phán, đặc biệt đối với vùng nước và các nguồn tài nguyên của Biển Đông. Tầm quan trọng của hướng thứ hai này có thể được đánh giá một cách cụ thể hơn thông qua việc cân nhắc, nếu mỗi bên yêu sách đối với quần đảo Trường Sa đều tuyên bố một vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa tính từ đường cơ sở được vạch từ những điểm xác định bởi các đảo mà họ hiện đang chiếm giữ, thì toàn bộ các vùng nước của Biển Đông và vùng đáy biển ở phía dưới sẽ nằm dưới rất nhiều các chế độ của quyền tài phán quốc gia khác nhau[10] và chuyển vùng vốn trước đó là biển cả và đáy đại dương quốc tế thành một vùng biển “nửa kín”[11].
Cho đến nay các quốc gia ven biển có lợi ích đã thực hiện những bước tiến cụ thể nhằm mở rộng thẩm quyền trên biển của họ. Ngay từ đầu năm 1977, Việt Nam đã tuyên bố quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là lãnh thổ của họ có các vùng biển riêng của chúng[12]. Sau đó đến Philippin vào năm 1978 tuyên bố chính thức sáp nhập lãnh thổ đối với vùng phía Tây quần đảo Trường Sa và đang xem xét pháp chế từ năm 1987 để mở rộng đường cơ sở quốc gia quần đảo năm 1968 của mình, nhằm gộp phần lãnh thổ yêu sách vào thành một phần của quốc gia quần đảo Philippin[13]. Cùng lúc với việc tuyên bố sáp nhập quần đảo Trường Sa, Philippin cũng tuyên bố một vùng đặc quyền kinh tế có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để xác định chiều rộng lãnh hải của họ[14]. Mặt khác, Malaysia khẳng định sự chiếm giữ hiện tại của họ trên ba đảo của quần đảo Trường Sa bằng một tuyên bố mới lạ rằng, chúng tạo thành một phần của rìa lục địa của Malaysia[15]. Ngày 25/2/1992, Quốc hội nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã phê chuẩn một đạo luật mới về các vùng nước lãnh thổ, yêu sách chủ quyền đối với cột nước, đáy biển và khoảng không gian trong giới hạn 12 hải lý kể từ bờ biển. Đạo luật này được tuyên bố là áp dụng đối với quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa cũng như các nhóm đảo khác là đối tượng tranh chấp với các quốc gia khác[16]. Đáp lại hành động này các nguồn tin cho biết, Đài Loan đã chuẩn bị một đạo luật về các vùng nước lãnh thổ của riêng mình nhằm tái khẳng định các yêu sách của họ không chỉ đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, mà còn cả với đảo Đông Sa và Trung Sa nữa[17].
Với nỗ lực nhằm mở ra một cuộc thảo luận để đạt được một giải pháp cho tất cả những yêu sách cạnh tranh đối với quần đảo Trường Sa, các quan chức cao cấp và viện sĩ hàn lâm từ năm quốc gia yêu sách cùng với đại diện từ các nước Brunei, Indonesia, Lào, Singapore và Thái Lan đã nhóm họp ở Băng Đung, Indonesia tháng 7/1991 để tham gia một hội nghị, thảo luận tìm giải pháp thay thế nhằm kiểm soát những tranh chấp tiềm tàng ở khu vực Biển Đông. Hội nghị Băng Đung kết thúc với việc các bên tham gia đưa ra một thông cáo chung, tuyên bố cam kết của họ về việc sử dụng các biện pháp hoà bình để giải quyết các yêu sách tài phán và lãnh thổ chồng lấn ở Biển Đông [18]. Họ cũng thoả thuận rằng, sẽ tiếp tục những nỗ lực trong việc hợp tác trong những lĩnh vực như quy định về vận tải biển, thông tin liên lạc, khảo sát khoa học, trấn áp cướp biển và vận chuyển ma tuý trong khu vực[19].
Hội nghị Băng Đung được coi là một bước đột phá, xoá đi mối cản trở lâu dài giữa các quốc gia tranh chấp về quyền kiểm soát trên Biển Đông, nguyên nhân chính là vì Trung Quốc không những đã tham gia hội nghị mà còn tỏ rõ thiện chí cân nhắc về giải pháp hợp tác nhằm giải quyết tranh chấp. Điều này cho thấy sự ôn hoà hơn trong chính sách đã có từ rất lâu của Trung Quốc, vì trong quá khứ, nước này kiên quyết không tham gia vào bất kỳ một cuộc thảo luận nào có dính líu đến vấn đề chủ quyền đối với những lãnh thổ đất liền tranh chấp, đặc biệt nếu có Đài Loan tham dự những cuộc thảo luận ấy với tư cách là chủ thể riêng biệt[20]. Bất chấp những vấn đề kể trên phải thừa nhận rằng, tiến triển mà Hội nghị Băng Đung có được về việc giải quyết các yêu sách chồng lấn về biển và lãnh thổ đối với Biển Đông chỉ ở mức tối thiểu. Bản thân hội nghị này ở cấp độ không chính thức, cho nên các thành viên tham gia không thể buộc quốc gia của họ phải đi theo một giải pháp toàn diện và ổn định hơn đối với tranh chấp này[21]. Và dù các đại biểu của Trung Quốc tham gia hội nghị đồng ý, việc xúc tiến hợp tác trong khu vực về các vấn đề gìn giữ môi trường và phát triển nguồn tài nguyên là có thể đạt được, song họ vẫn duy trì khẳng định sắt đá của mình về yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa, cũng như các nhóm đảo khác ở Biển Đông là không thể đàm phán[22].
Có thể thấy rõ, các tuyên bố của các quốc gia tại Hội nghị Băng Đung chẳng có ý nghĩa gì, các bên trong khu vực có liên quan đến tranh chấp quần đảo Trường Sa vẫn coi việc thực hiện những hành vi quốc gia đơn phương là biện pháp hiệu quả và vững chắc hơn để giải quyết những vẫn đề còn chưa rõ ràng xung quanh hiệu lực các yêu sách của họ về chủ quyền đối với quần đảo. Đây là lý do gây mối quan tâm sống còn, vì quan điểm mang tính phổ biến này không báo trước điềm lành cho việc đạt được sự ổn định về kinh tế và chính trị trong khu vực trong giai đoạn hậu chiến tranh lạnh.
Sự bất ổn của tình trạng này trong khu vực thể hiện rõ qua các bản tin nhiều lần đưa tin về các sự kiện liên quan đến việc bắt giữ thuyền bè và bắt giữ để trả đũa bởi các cơ quan của các chính phủ cạnh tranh và việc tăng cường quân sự hoá khu vực[23]. Kể từ năm 1974, Trung Quốc và Việt Nam đã có hai cuộc hải chiến nhằm chiếm giữ quần đảo Hoàng Sa và một số đảo nhất định trong quần đảo Trường Sa. Đạo luật mới về các vùng nước lãnh thổ của Trung Quốc yêu cầu các tầu quân sự nước ngoài phải được sự phê chuẩn trước của Bắc Kinh trước khi đi vào các “vùng nước lãnh thổ” của Trung Quốc, bao gồm cả các vùng nước quanh quần đảo Trường Sa. Các tầu mang các chất hạt nhân và chất độc hại cũng yêu cầu phải có giấy xác nhận của chính phủ trước khi đi qua những vùng nước này[24]. Nhằm thực thi những yêu cầu này, đạo luật mới cho phép hải quân Trung Quốc được dùng vũ lực để đẩy lùi các tàu ngoại quốc bị phát hiện ở những vùng nước xung quanh các đảo yêu sách[25].
Một khi các quốc gia cạnh tranh bắt đầu thực hiện những bước đi chắc chắn hơn nhằm thực hiện việc đơn phương mở rộng quyền lực trên biển và lãnh thổ của họ trên Biển Đông thông qua việc định rõ giới hạn quốc gia trên biển của họ và sau đó, cấp nhượng quyền và cấp phép cho các dự án nằm trong những vùng yêu sách, một điều không tránh khỏi là, vũng lầy của sự chồng lấn quyền tài phán sẽ khiến cho những đường ranh giới được khẳng định không còn chức năng phục vụ cho mục đích lập bản đồ những vùng thẩm quyền để phát triển nguồn tài nguyên biển. Tuy nhiên, một điều còn đáng ngại hơn là có nhiều khả năng các yêu sách đối kháng này sẽ làm tăng thêm những mối quan tâm của quốc gia về việc bảo vệ an ninh quốc gia chống lại những đe dọa từ bên ngoài, và do đó, làm gia tăng sự căng thẳng trong khu vực, có lẽ sẽ đạt tới điểm, khi việc sử dụng những biện pháp quân sự chủ động trở nên thiết thực đối với một số chính phủ[26].
Do vậy mà cho tới nay, việc các nước cạnh tranh dựa vào những quy tắc chung của luật quốc tế để củng cố cho những yêu sách tài phán của họ trên Biển Đông đã không dẫn đến việc thiết lập và duy trì trật tự trong khu vực. Ngược lại, có một điều hiển nhiên là, những quy tắc này chủ yếu được sử dụng để hỗ trợ và củng cố cho chủ nghĩa đơn phương hành động, coi đó là một phương thức hành động tốt hơn trong bối cảnh mâu thuẫn gia tăng về phạm vi quyền lực lãnh thổ và biển của các quốc gia tranh chấp[27]. Do đó, những người ra quyết định của các nước này sẽ phải gánh vác thêm một nguy cơ, khi việc sử dụng quyền lực bị lạm dụng, trở thành phương tiện để chống đỡ cho những lời khẳng định đơn phương về thẩm quyền tài phán, thì các chuẩn mực pháp lý quốc tế sẽ mất đi sự tin cậy và những viện dẫn tài liệu, chứng cứ của họ sẽ trở nên hoàn toàn vô nghĩa.
Bất chấp bối cảnh khó khăn này, vẫn có lý do để phản đối suy nghĩ bi quan rằng, chiến tranh trong khu vực là không thể tránh khỏi. Hội nghị Băng Đung đã chỉ ra, việc các quốc gia quan tâm vẫn sẵn lòng tìm kiếm những giải pháp thay thế để dàn xếp những yêu sách đối kháng của họ. Trong khi có thể là quá sớm khi thấy ở Hội nghị Băng Đung những biểu hiện rõ ràng về một giải pháp mới để giải quyết những yêu sách mâu thuẫn và chồng lấn ở Biển Đông, thì có gợi ý về thiện chí giữa những người ra quyết định, có tính đến khả năng có sự hưởng ứng toàn diện của khu vực về các vấn đề biển và các vấn đề liên quan đến biển, ví dụ như việc xác định quy chế của quần đảo Trường Sa, có thể được thay vì việc trước đây vẫn dựa vào những công thức rút ra từ các nguyên tắc chung của luật quốc tế.
Do vậy, công trình nghiên cứu này sẽ triển khai từ việc thừa nhận rằng, một định nghĩa và việc vận dụng thực tế của một giải pháp mang tính khu vực để giải quyết việc phân bổ và sử dụng nguồn tài nguyên đại dương ở Biển Đông là mục tiêu có thể đạt được. Như một bước đi đầu tiên trong nỗ lực này, việc xem xét các yêu sách tạo nên tranh chấp Trường Sa trở nên cần thiết gấp đôi. Trước tiên, phải làm rõ lý do tại sao việc ngoan cố tiếp tục quyết định xem quốc gia tranh chấp nào có yêu sách hiệu lực nhất về quyền sở hữu đối với các đảo của quần đảo Trường Sa, trên cơ sở những quy tắc chung của luật quốc tế được xây dựng với mục đích xác định các yêu sách về chủ quyền lãnh thổ, sẽ chỉ đào sâu thêm sự sụp đổ trong khu vực và do đó, đẩy nhanh thêm việc các bên yêu sách đối kháng tái sử dụng các biện pháp quân sự để tăng cường các vị trí của họ trong khu vực. Thứ hai, việc nghiên cứu các yêu sách đối với quần đảo Trường Sa sẽ chứng minh, tại sao các quốc gia ven Biển Đông lại nên chuyển việc tập trung ưu tiên của họ từ việc cân nhắc sức nặng của những luận điểm mang tính pháp lý nhằm bảo vệ cho những khẳng định không chắc chắn lắm về quyền sở hữu lãnh thổ các đảo sang phân tích những quyền lợi cụ thể của họ trong việc sử dụng chính nguồn tài nguyên biển và xác định rõ chức năng của những quyền lợi như vậy sao cho phù hợp với khoảng không gian biển trong khu vực. Sau cùng, nghiên cứu tranh chấp quần đảo Trường Sa mong muốn đưa ra được một khung hữu dụng, cho phép các thực thể hữu quan tạo nên được những dàn xếp mới có hiệu quả để giải quyết các vấn đề cụ thể, trong trường hợp của họ với tư cách là những thành viên trong một khu vực địa lý có chung các lợi ích kinh tế và chính trị trong việc sử dụng một nguồn tài nguyên chung.
Vấn đề chủ quyền lãnh thổ
Ngay từ khi mới phôi thai, và trong suốt quá trình lịch sử được ghi nhận, tranh chấp quần đảo Trường Sa đã nảy sinh như một cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia xung quanh về chủ quyền đối với vùng lãnh thổ được coi là có vị trí chiến lược để kiểm soát những con đường hàng hải và thương mại ở Biển Đông. Chỉ cho tới sau Chiến tranh thế giới II, quy mô của tranh chấp về hàng hải mới trở nên ngày càng nổi bật do kết quả sự vận động của luật quốc tế theo hướng pháp điển hoá các nguyên tắc tập quán và sự xuất hiện của xu hướng sử dụng các đại dương được đúc kết lại qua quá trình soạn thảo Luật Biển của Liên hợp quốc (UNCLOS). Cùng với việc quy chế hoá các nguyên tắc được xây dựng qua UNCLOS, giữa những người ra quyết định trong khu vực đã nảy sinh sự thừa nhận hai yếu tố cơ bản của vấn đề Biển Đông - (1) việc định rõ chủ quyền đối với các nhóm đảo tranh chấp và (2) việc phân định quyền tài phán đối với không gian biển - có mối quan hệ nội tại chặt chẽ[28]. Chỉ cho tới sau Hội nghị Băng Đung thì tính logic của một giải pháp thuần tuý về biển để giải quyết tranh chấp mới được xem xét một cách nghiêm túc[29].
Quan điểm “trước-Băng Đung” được thiết lập chủ yếu trên cơ sở thừa nhận rằng, theo các quy tắc phổ biến về việc phân định ranh giới biển, việc thiết lập quyền sở hữu đối với các đảo là điều kiện tiền đề để sử dụng chúng làm điểm cơ sở, từ đó các quốc gia ven biển xác định được phạm vi thẩm quyền trên biển tương ứng của họ. Việc nhấn mạnh, vấn đề ai có quyền sở hữu hiệu lực đối với các đảo cần phải được giải quyết trước tiên, trước khi vấn đề phân định ranh giới biển được đề cập trở thành một chính sách giữa các quốc gia cạnh tranh đối với quần đảo Trường Sa[30]. Đáng chú ý là, những nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến các tranh chấp đảo ở Biển Đông phản ánh giả thuyết này; các nghiên cứu khai thác vấn đề chủ quyền đối với các đảo không thể đưa ra được gì khác hơn là những giới hạn chung cho việc giải quyết các vấn đề liên quan đến việc phân định quyền tài phán trên biển, sau khi thừa nhận rằng, vấn đề chủ quyền vẫn chưa được giải quyết và có vẻ trở nên ngày càng khó hơn[31].
Việc xem xét những chính sách đang tồn tại về những yêu sách quyền sở hữu hay chủ quyền chồng lấn đối với quần đảo Trường Sa cho thấy, những cơ sở pháp lý của họ chủ yếu xoay quanh ba căn cứ đã được thừa nhận và phát triển trong pháp luật quốc tế, như “các cơ sở của danh nghĩa” cho việc thụ đắc lãnh thổ. Trước tiên, bài viết này sẽ cố gắng giải thích tại sao, việc áp dụng chi tiết các cơ sở này của các bên yêu sách nhằm tạo nên các luận điểm pháp lý, ủng hộ cho những vị thế tương ứng của họ đã không dẫn đến việc giải quyết một cách triệt để yếu tố lãnh thổ của tranh chấp Trường Sa. Thứ hai, cũng trình bày tại sao việc tìm kiếm một giải pháp như vậy, thông qua sử dụng cuộc cạnh tranh về chứng cứ, khi mỗi quốc gia quan tâm cố gắng kiến lập sự tuân thủ các tiêu chuẩn pháp lý để chứng minh chủ quyền lãnh thổ, sẽ không chỉ là vô nghĩa, mà thậm chí còn làm kéo dài tranh chấp, như nguồn mâu thuẫn không ngừng giữa những bên hoạt động trong khu vực.
1. Các yêu sách dựa trên danh nghĩa lịch sử
Trong số các bên tranh chấp quần đảo Trường Sa, chỉ có Trung Quốc và Việt Nam là đưa ra được yêu sách có thể tin cậy về chủ quyền trên cơ sở danh nghĩa lịch sử[32]. Cơ bản, điều này có nghĩa, mỗi quốc gia này đều duy trì ý kiến của họ cho rằng, người của họ là những người đầu tiên phát hiện, xây dựng, và quản lý quần đảo, do vậy, kết quả nó đã trở thành một phần lãnh thổ của họ.
Tuyên bố công khai đầu tiên của Trung Quốc về yêu sách đối với các đảo ở Biển Đông nằm trong tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao lúc đó là Chu Ân Lai ngày 15/8/1951, ba tuần trước khi kết thúc Hội nghị Hoà bình San Francisco và ký kết Hoà ước với Nhật Bản, theo đó Nhật Bản từ bỏ mọi yêu sách chủ quyền của họ đối với quần đảo Trường Sa cũng như với Đài Loan, Đông Sa, Bãi Trung Sa, quần đảo Pescadores và quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc và Đài Loan đã bị loại khỏi hội nghị theo thoả hiệp giữa một bên là Mỹ và Vương quốc Anh và một bên là Liên Xô khi các nước này không thể thoả thuận được với nhau theo uỷ nhiệm thư nào của Trung Quốc, Bắc Kinh hay Nangking/Đài Bắc được chấp nhận tham gia hội nghị. Tuyên bố của Chu Ân Lai có nội dung sau:
Dự thảo (Hoà ước) quy định rằng, Nhật Bản sẽ từ bỏ mọi yêu sách đối với đảo Nam Uy (Trường Sa) và quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), nhưng không đề cập đến vấn đề phục hồi chủ quyền. Trên thực tế, quần đảo Hoàng Sa và đảo Trường Sa, cũng như toàn bộ quần đảo Trường Sa, và các quần đảo Chung-sha (bãi Macclesfield), và Tung-sha (Pratas, Đông Sa) luôn luôn là lãnh thổ của Trung Quốc. Mặc dù chúng bị đế quốc Nhật Bản chiếm đóng một thời gian trong chiến tranh nhưng đã được chính phủ Trung Quốc tiếp quản sau khi Nhật Bản đầu hàng. Chính quyền Nhân dân Trung ương của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tuyên bố như sau: chủ quyền không thể xâm phạm của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đối với đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa sẽ không bị suy giảm, dù cho Anh và Mỹ soạn thảo hoà ước với Nhật Bản có bất cứ sự điều chỉnh nào khác hay có tính chất tương tự như vậy[33].
Phân tích tuyên bố của ông Chu, báo Nhân Dân Trung Hoa đăng tải một bài viết trích dẫn các tài liệu làm bằng chứng cho yêu sách lịch sử của Trung Quốc đối với các đảo ở Biển Đông như “Wujing Zongyao” có từ thế kỷ 11 thời nhà Tống, việc phát hiện trên các đảo những đồng tiền xu và các đồ tạo tác khác từ thế kỷ 14 thời nhà Minh và những tài liệu ghi nhận về các cuộc tuần tiễu hải quân trong khu vực của những nhà hàng hải Trung Hoa như Phó Thống đốc Wushing trong thế kỷ 18 dưới triều nhà Thanh[34]. Trong một tài liệu sau này của Bộ Ngoại giao có tên “Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc đối với các quần đảo Tây Sa (Xisha) và Nam Sa (Nansha)” ban hành ngày 30/1/1980, Trung Quốc tìm cách thiết lập yêu sách của mình trên cơ sở những bằng chứng cổ xưa hơn qua việc trích dẫn hai quyển sách mang tên “Nanzhou Yiwuzhi” và “Funanzhuan” có từ thế kỷ 3 thời kỳ Tam Quốc để chứng minh rằng, người Trung Quốc là những người đầu tiên khám phá ra quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa và khai thác các nguồn lợi của chúng[35].
Về phía mình, Việt Nam đã tuyên bố và mở rộng yêu sách lịch sử của họ đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa trong hai quyển “Sách Trắng” do Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hoà xuất bản lần lượt vào các năm 1979 và 1982, mỗi quyền sách đều khẳng định “Chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”[36].Cả hai tài liệu đều trích dẫn năm bằng chứng nhằm thiết lập các yêu sách lịch sử của Việt Nam, tất cả đều gắn với các hoạt động dưới triều nhà Nguyễn, trước tiên với tư cách là người thống trị phía Nam Việt Nam, sau đó được gọi là Cochinchina (Đàng Trong) trong thế kỷ 17, và sau này với tư cách là hoàng đế An Nam, được thiết lập bằng sự thống nhất Đàng Trong và Đàng Ngoài ở phía Bắc trong thế kỷ 19. Bằng chứng cổ nhất là một bản đồ của vùng Quảng Ngãi, miền Nam Việt Nam, xác nhận một bãi cát ngầm được gọi là “Bai Cat Vang” ở “Biển Đông”, nơi hoạt động cứu hộ đã được thực hiện nhân danh các hoàng tử nhà Nguyễn. Bản đồ này được lưu trong tập bản đồ “Hồng Đức”, một tập hợp bản đồ của Việt Nam được soạn vào khoảng giữa năm 1460 và 1497, nhưng chỉ đến thế kỷ 17 mới được biên soạn[37]. Các mục khác trong các quyển “Sách Trắng” được trích dẫn làm bằng chứng cho mối liên hệ của Việt Nam với các đảo ở Biển Đông, đã ghi nhận sự phát triển quyền lợi của người Việt Nam trong hoạt động kinh doanh cứu hộ có lợi ở các đảo[38] và những nỗ lực của các ông vua triều Nguyễn trong việc thăm dò các đảo, nhằm mục đích đánh giá các nguồn tài nguyên của chúng[39].
Trong khi nhìn chung có thể thừa nhận rằng, về mật độ và tính lâu đời, thì những tài liệu lịch sử mà Trung Quốc dựa vào để tạo nên cơ sở có vẻ hợp lý nhất hỗ trợ cho cái gọi là phát hiện và khai thác các quần đảo ở Biển Đông sớm nhất, những tài liệu lịch sử này lại không ủng hộ một cách vững chắc cho vị trí của Trung Quốc vì nó còn nhiều vấn đề về bằng chứng và ngữ văn[40].
a. Vấn đề bằng chứng
Trước tiên, Trung Quốc cần phải giải quyết vấn đề xác định một cách rõ ràng những đảo mà họ yêu sách là do mình phát hiện và khai thác. Những tài liệu sớm nhất của Trung Quốc không đề cập trực tiếp đến quần đảo Trường Sa, mà chỉ xác định một cách chung chung các điểm với những cái tên như “Ch’ien-li changsa” và “Wan-li Shih T’ang” ở “các biển phía Nam”, quanh khu vực mà bây giờ được biết đến là quần đảo Hoàng Sa và gần với đảo Hải Nam của Trung Quốc hơn bất kỳ đảo nào thuộc Trường Sa, quần đảo nằm xa hơn ngoài biển[41]. Xu hướng này phù hợp với quan niệm rằng, hầu hết các tài liệu lịch sử ban đầu mô tả về khu vực Biển Đông ghi nhận các điểm trên bờ biển nhiều hơn là trên đại dương hay các con đường biển[42]. Hơn nữa, những nỗ lực nhằm lập bản đồ chính xác của khu vực bên ngoài các con đường ven biển sau thế kỷ 15 đã mất đi động lực của nó, khi nhà Minh của Trung Quốc từ bỏ việc bảo trợ các cuộc thám hiểm biển như những cuộc thám hiểm do đô đốc Cheng Ho thực hiện trước đó, và thay vào đó, bắt đầu có xu hướng hướng nội và mất đi vị trí thống lĩnh của họ trên những con đường vận tải biển ở Biển Đông[43]. Đề cập cụ thể lần đầu tiên trong tài liệu của Trung Quốc về một nhóm đảo ở phía Nam và cách xa quần đảo Hoàng Sa nay được xác định với một tên ghép là “Wan-li ch’ang- sha” chỉ xuất hiện năm 1730, trong một cuốn sách do Ch’en Lun-chiung xuất bản với tựa đề “Hai-kuo wen-chien lu” hay “Thắng cảnh và âm thanh của các nước ven biển”, theo đó chúng được gọi, vẫn chỉ với cụm từ chung là “Ch’ien-li shih-t’ang” hay “Bãi ngầm vạn lý”[44]. Điều này rõ ràng không đủ để xác định quần đảo Trường Sa nếu như ta xem xét số lượng các đảo và không gian biển được yêu sách là thuộc về chúng. Sự thiếu cụ thể trong việc xác định quần đảo Trường Sa vẫn tiếp diễn cho mãi tới năm 1820, khi Yang Ping-nan xuất bản cuốn “Ha-lu” hay “Các nguồn tài nguyên biển”, theo đó quần đảo Hoàng Sa hay “Wan-li ch’ang-sha” được xác định là điểm phân luồng giao thông, hay ranh giới giữa những con đường “bên trong” và “bên ngoài” ở Biển Đông, nối liền Canton và Batavia và cũng là vành đai bảo vệ phía ngoài của Việt Nam[45]. Trái với mô tả chi tiết này về vị trí của quần đảo Hoàng Sa, cuốn Hai lu hạn chế miêu tả về quần đảo Trường Sa hay “Ch’ien-li shih-t’ang”, chỉ đơn giản là ở “phía Nam của biển Ch’i-chou” và “ phía Tây của Lu-sung” - đảo Luzon của Philippin[46]- và do vậy gây nên sự hiểu biết không rõ ràng trong giới các học giả và các nhà hàng hải đương thời về kích thước cụ thể của quần đảo Trường Sa[47].
Việt Nam cũng vấp phải vấn đề về bằng chứng như vậy. Nguồn tài liệu sớm nhất được trích dẫn trong Sách Trắng của Việt Nam gộp cả quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa dưới cái tên chung là “Hoàng Sa”, “Đại Trường Sa” và “Vạn lý Trường Sa”, dù rằng “Hoàng Sa” hiện nay được sử dụng để chỉ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam nhiều nhất. Sự lẫn lộn về thuật ngữ này đã giúp cho Việt Nam khẳng định rằng, tất cả các tài liệu ban đầu đề cập đến hoạt động cứu hộ và đánh cá ở trong và xung quanh quần đảo Hoàng Sa cũng đề cập đến những hoạt động tại quần đảo Trường Sa, vì sự xác định của địa phương về quần đảo Hoàng Sa ghi nhận trong các tài liệu này có bao gồm cả quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên, lập luận này không thuyết phục, vì thực tế vị trí địa lý cụ thể của quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa tạo nên cơ sở vững vàng để lập luận rằng, mỗi quần đảo đều khác biệt hẳn với quần đảo kia về mặt địa lý[48]. Thay vào đó, lập luận rằng, việc đề cập đến các hoạt động ở quần đảo Hoàng Sa cũng đề cập chung đến các hoạt động trên toàn bộ khu vực Biển Đông có vẻ như là một cố gắng yếu ớt nhằm che khuất các tài liệu lịch sử chỉ ra rằng, các hoạt động này diễn ra là chỉ ở quần đảo Hoàng Sa. Tính không xác thực của lập luận như vậy trên cơ sở vận dụng những cái tên được chứng tỏ trong thực tế là nó có thể dễ dàng quay trở lại chống lại chính những người sử dụng nó. Ngay từ cuối những năm 1950, Trung Quốc và Philippin đã cố đưa ra lập luận rằng, những yêu sách của họ đối với nhóm đảo “Nam Sa” và “Kalayaan” không hề ảnh hưởng gì đến “Trường Sa” của Việt Nam vì những cái tên này đề cập đến một nhóm đảo khác với nhóm đảo mà Việt Nam yêu sách.[49]
Sự thiếu tính cụ thể và phân biệt giữa các quần đảo tranh chấp ở Biển Đông thể hiện trong các tài liệu lịch sử mà Trung Quốc và Việt Nam dựa vào đã đưa đến kết luận, dù rằng bản đồ thực tế của khu vực tới giữa thế kỷ 19 đã trở nên rõ ràng hơn, thì những số liệu có được vẫn chỉ đề cập đến những nhóm đảo ở ngoài khơi xa.[50]
Sự mơ hồ của các tài liệu lịch sử còn kèm theo những nghi ngờ về tính xác thực của bản thân các tài liệu đó. Chú ý rằng, những yêu sách hiện đại về danh nghĩa lịch sử chưa bao giờ được chính thức hoá bằng những công cụ pháp lý không thể bác bỏ được và có hiệu lực ràng buộc không bị tranh cãi[51]. Kết quả là có nhiều cơ hội và động cơ mạnh mẽ, thúc đẩy các bên yêu sách tiếp tục tìm kiếm các chứng cứ có thể chứng minh cho sự tồn tại một mối liên hệ lịch sử lâu dài với quần đảo Trường Sa, bất chấp có thể xác minh được hay không. Việc so sánh xem Trung Quốc đã làm như thế nào để “cụ thể hoá” yêu sách lịch sử của họ đối với các quần đảo ở Biển Đông, trong khoảng thời gian giữa tuyên bố năm 1951 của ông Chu và thông cáo của Bộ Ngoại giao năm 1980 về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho thấy sự linh hoạt, theo đó những tài liệu như vậy có thể mở rộng ra, bao gộp chứng cứ về mối liên hệ mà họ yêu sách, biện luận là mang tính cổ xưa nhưng lại chỉ mới “phát hiện gần đây”[52]
b. Xét về luật đương thời
Ngoài những mối quan tâm về sự xác thực và tính chính xác của các tài liệu lịch sử tương ứng, cả Trung Quốc và Việt Nam buộc phải giải quyết một vấn đề mang tính nền tảng, hơn là liệu những bằng chứng danh nghĩa lịch sử có còn có sức nặng nào trong việc coi đó là một hình thức thụ đắc lãnh thổ. Một điều theo các nguyên tắc của luật quốc tế hiện đại đã được xác định rõ, là việc phát hiện lãnh thổ mới không mang lại cho người phát hiện ra nó danh nghĩa quyền sở hữu không thể bác bỏ, mà nó chỉ tạo nên danh nghĩa ban đầu và danh nghĩa này cần phải được củng cố thêm bằng việc chiếm hữu liên tục, hiệu lực sau đó[53]
Việc áp dụng nguyên tắc hiện đại này, dựa trên tiêu chuẩn “chiếm hữu” để đánh giá liệu yêu sách và những hành động tiền hiện đại của Trung Quốc và Việt Nam có đủ để thiết lập một danh nghĩa hoàn hảo đối với các quần đảo bị tranh chấp, hiện đang bị coi là không công bằng do có giả thuyết cho rằng, thay vào đó các tiêu chuẩn hiện đại cho việc hình thành hay thiết lập các yêu sách cần phải được áp dụng[54]. Việc áp dụng nguyên tắc “luật đương thời” này đã được xét tới trong phán quyết trọng tài vụ đảo Palmas ngày 4/4/1928. Sau khi nhượng bộ rằng, một thực tiễn pháp lý cần phải được đánh giá dưới ánh sáng của luật đương thời với nó và không phải là luật có hiệu lực vào thời điểm tranh chấp có liên quan, khi xuất hiện hay được đưa ra giải quyết, trọng tài duy nhất, Max Huber, đã đưa ra tiêu chuẩn sau đây:
“Về vấn đề hệ thống luật nào thịnh hành tại các thời kỳ kế tiếp nhau được áp dụng trong một vụ việc cụ thể (luật đương thời), cần phải phân biệt rõ giữa việc tạo lập các quyền và sự tồn tại của các quyền. Nguyên tắc giống như vậy đối với hành vi tạo lập quyền theo luật có hiệu lực tại thời điểm mà quyền đó phát sinh, đòi hỏi sự tồn tại của quyền và sự biểu hiện liên tục của nó sẽ phải tuân theo các điều kiện mà sự phát triển của luật đòi hỏi.”
Bằng việc đưa ra sự phân biệt này, Huber đã có thể kết luận rằng, vào thế kỷ 19, khi tranh chấp Palmas phát sinh, nguyên tắc chiếm hữu hiệu lực là nguyên tắc bao trùm của luật quốc tế, khẳng định việc thiết lập chủ quyền lãnh thổ. Do vậy, ông cũng kết luận, hành vi phát hiện không đủ để thiết lập chủ quyền đối với lãnh thổ tranh chấp, nếu như nó không được công nhận giá trị thông qua các hành vi chiếm hữu tiếp sau, thậm chí có sự nhượng bộ là một hành vi phát hiện hệt như vậy có thể tạo nên chủ quyền lãnh thổ cho người phát hiện với tư cách là danh nghĩa thụ đắc vào thế kỷ 16. [56].
Một thách thức ẩn chứa trong việc thực hiện nguyên tắc luật đương thời trên danh nghĩa lịch sử mà Trung Quốc và Việt Nam yêu sách là nguyên lý rằng, các yêu sách lịch sử của họ nếu được chứng minh đầy đủ bằng bằng chứng thì bản thân chúng đều đủ sức hỗ trợ cho khẳng định về chủ quyền lãnh thổ. Sự vững chắc của lập luận này trở nên rõ ràng, khi xét thấy các yêu sách muốn được đánh giá theo nguyên tắc này đã phát triển độc lập với truyền thống luật quốc tế phương Tây trên cơ sở của nó nguyên tắc luật đương thời được xây dựng nên. Vấn đề này sẽ được chứng minh rõ hơn khi xem xét dưới góc độ các hậu quả của những yêu sách lịch sử khi áp dụng luật đương thời. Bằng việc tách giá trị của chiếm hữu hiệu lực, với tư cách là một phương thức thụ đắc lãnh thổ ra khỏi việc cần có danh nghĩa lịch sử tồn tại từ trước, vụ Palmas đã đưa ra một cơ sở pháp lý, theo đó các bên thứ ba có thể xen ngang vào các yêu sách của Trung Quốc hay Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.
Nhưng nguyên tắc mà vụ Palmas đặt ra đối với luật đương thời chẳng có nghĩa lý gì, việc chú trọng vào các tiêu chuẩn tiền hiện đại sẽ chẳng giúp gì nhiều cho các yêu sách của Trung Quốc hay của Việt Nam về chủ quyền lãnh thổ đối với các quần đảo ở Biển Đông. Tư tưởng chính trị và pháp lý của Trung Quốc, phản ánh ảnh hưởng của luân lý Khổng giáo, quan niệm một vùng trên đó một quốc gia, hay “quốc”, có chủ quyền, không phải với chức năng của những giới hạn pháp lý, mà của tổ chức xã hội, lịch sử và sự trung thành của các thần dân[57]. Hoàng đế cai trị những thần dân chứ không phải là không gian; vùng đất cai trị được xác định như những điểm cư dân sinh sống và sử dụng. Do vậy, ranh giới phạm vi chủ quyền lãnh thổ được thể hiện ở những vùng ảnh hưởng chứ không phải ở những đường ranh giới xác định[58]. Nguyên tắc này sẽ giải thích tại sao mãi tới thế kỷ 19, vẫn không có bằng chứng nào về việc chính thức sáp nhập quần đảo Trường Sa hay Hoàng Sa vào lãnh địa do nhà Thanh, Trung Quốc cai trị[59]. Hơn nữa, ý tưởng về chủ quyền đại dương như sự mở rộng thẩm quyền chính đáng của quốc gia đối với cột nước ở biển, nếu có thì cũng chỉ đóng một phần rất nhỏ trong học thuyết chính trị và pháp lý truyền thống của Trung Quốc[60]. Chủ quyền chấm dứt trùng với sự kết thúc của bờ biển và sự vươn ra biển được giới hạn ban đầu nhằm kiểm soát việc ra vào các cảng và những con đường thủy nội địa để chống lại nạn buôn lậu và cướp biển[61]. Vùng biển không mang một giá trị chiến lược thực chất, ngoài tư cách là một vùng tiền tuyến quốc phòng và do vậy, những vùng nước khu vực, như Biển Đông, đã được coi là một phần cấu thành của vành đai bảo vệ bên ngoài[62]. Phù hợp với triển vọng hướng về đất liền đó, những tài liệu ghi chép trong giai đoạn này khẳng định, không nhiều hơn là sự công nhận về mặt địa lý các đảo ở Biển Đông là những điểm phân luồng giao thông quan trọng, là những mối nguy hiểm cho hàng hải và là những phần của một vành đai bảo vệ có thể mở rộng được cho sự bành trướng của đế chế[63]
Việt Nam cũng phải đối mặt với một vấn đề riêng biệt, nếu như yêu sách lịch sử của họ đối với các quần đảo ở Biển Đông được đánh giá bằng các tiêu chuẩn tiền hiện đại. Trong lịch sử, Trung Quốc coi Việt Nam là một nước chư hầu và do vậy, coi tất cả các lãnh thổ mà Việt Nam chiếm hữu hay thuộc quyền tài phán của Việt Nam đều nằm dưới sự thống trị của Trung Quốc. Trong khi Đàng Ngoài của Việt Nam có thể yêu sách là “độc lập” với triều đình Trung Quốc ngay từ thế kỷ thứ mười, thì họ vẫn duy trì quan hệ nghi thức triều cống ba năm một lần với hai mục đích, đảm bảo việc Trung Quốc không can thiệp vào công việc nội bộ của Đàng Ngoài và tạo nên sự hỗ trợ về mặt quân sự hay bảo vệ chống xâm lược từ bên ngoài[64]. Thậm chí vua Gia Long, vị vua đầu tiên của triều Nguyễn, An Nam vẫn tiếp tục triều cống Trung Quốc trong thế kỷ 19, một hành động có thể giải thích lý do tại sao nhà Thanh của Trung Quốc đã lờ đi những tấu chương nói rằng nhà vua đã chính thức chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa với danh nghĩa đất nước mình năm 1816.[65]
Đến cuối thế kỷ 19, Việt Nam đã độc lập tách biệt khỏi quỹ đạo thống trị chính trị của Trung Quốc. Năm 1862, hoàng đế Tự Đức của An Nam đã ký kết một hiệp ước với Pháp, trao cho Pháp những quyền rất lớn trong vương quốc của ông ta, bao gồm cả việc nhượng ba tỉnh Nam bộ, mở cửa ba cảng của An Nam cho Pháp buôn bán, trao cho Pháp quyền đi lại trên sông Mê Kông và cam kết không chuyển nhượng bất cứ một phần lãnh thổ An Nam nào cho bất cứ một quốc gia nào khác, ngoài Pháp[66]. Năm 1874, An Nam ký một hiệp ước Hoà bình và Liên minh với Pháp, trong đó, để đổi lại sự thừa nhận của Pháp đối với độc lập và chủ quyền của họ trước bất kỳ thế lực thứ ba nào cũng như đảm bảo sự hỗ trợ về quân sự của Pháp trong trường hợp có ngoại xâm, An Nam nhường cho Pháp quyền quản lý hoạt động đối ngoại của mình[67].
Bất chấp những hành động đó, vào thời điểm này, An Nam đã không cắt đứt hoàn toàn mối quan hệ truyền thống với Trung Quốc. Nhiều khi họ yêu cầu Trung Quốc can thiệp để duy trì trật tự ở các tỉnh Bắc bộ “giáp giới” với biên giới phía Nam của Trung Quốc, làm nản lòng Pháp, kẻ đang cố gắng củng cố sự kiểm soát của họ ở Đông Dương và cũng là kẻ coi những hành vi này của An Nam là sự vi phạm nghĩa vụ của An Nam theo hiệp ước. Nhằm kiểm soát sự can thiệp liên tục của Trung Quốc vào Đông Dương, Trung Quốc và Pháp đã ký kết Hiệp định Ly - Fournier năm 1884, theo đó Trung Quốc thoả thuận tôn trọng mọi thoả thuận trong quá khứ cũng như trong tương lai giữa Pháp và An Nam và mở cửa biên giới Trung Quốc - Bắc Kỳ cho Pháp buôn bán[68]. Mặt khác, Pháp tuyên bố, khi ký kết bất ký hiệp ước nào giữa họ và An Nam, họ sẽ cố gắng tránh dùng bất cứ sự biểu đạt nào có thể gây nguy hại hay làm tổn thương đến uy tín của đế chế Trung Hoa[69]. Tuyên bố này được giải thích là tạo nên một sự công nhận gián tiếp quyền bá chủ của Trung Quốc đối với An Nam và, hệ quả là, đối với tất cả những gì mà An Nam chiếm hữu[70].
Dù không bao lâu sau đó, Hiệp định Ly - Fournier được nối tiếp bằng việc thiết lập sự bảo hộ của Pháp đối với An Nam và tất cả những gì An Nam sở hữu[71], trong thời kỳ này, An Nam tiếp tục sử dụng Trung Quốc để chống lại Pháp. Theo yêu cầu của An Nam, Trung Quốc đã cử quân đội giao chiến với Pháp năm 1885. Sau một số thắng lợi ban đầu, lực lượng của Trung Quốc đã bị đánh bại và Trung Quốc buộc phải ký một hiệp định mới với Pháp, theo đó họ thoả thuận không can thiệp vào việc Pháp quản lý hoạt động đối nội của An Nam[72]. Tuy nhiên, khác với Hiệp định Ly - Fournier được ký một năm trước, trong đó có những tham chiếu cụ thể đến việc bảo vệ uy tín của Trung Quốc, hiệp định mới đã bổ sung thêm một điều kiện với một tuyên bố tương tự của Pháp. Điều 2, đoạn 2 của Hiệp ước Thiên Tân ký ngày 9/6/1885 quy định, về những vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa Trung Quốc và An Nam, việc Pháp công nhận uy tín của Trung Quốc không được hiểu theo hướng trái ngược với các điều khoản của hiệp ước mới[73]. Vì vậy chỉ đến năm 1885, việc huỷ bỏ chính thức mối quan hệ triều cống truyền thống giữa Trung Quốc và Việt Nam mới chính thức có hiệu lực.
Toà án Pháp lý quốc tế đã có cơ hội xem xét tác động của các mối quan hệ chính trị phong kiến với việc đánh giá các yêu sách cạnh tranh về danh nghĩa lịch sử đối với lãnh thổ tranh chấp của các quốc gia thống trị và nước chư hầu trong quyết định ngày 7/11/1953, trong vụ Minquiers và Ecrehos. Vụ này nảy sinh từ một tranh chấp giữa Pháp và Vương quốc Anh về chủ quyền đối với một số đảo trong eo biển Măng Sơ. Trước năm 1204 sau CN, các vua của nước Anh đã được trao quyền sở hữu các đảo tranh chấp với tư cách là các công tước xứ Normandy và là chư hầu của vua Pháp. Năm 1204, một toà án của Pháp tuyên bố thu hồi những lãnh địa thuộc quyền sở hữu của triều đình Pháp mà vua nước Anh nắm giữ. Sau đó, triều đình Pháp cũng đã thu hồi việc trao đất của Pháp cho Anh. Dù cuối cùng người Pháp giành lại quyền chiếm hữu lục địa Normandy từ tay người Anh, nhưng họ không thể giành lại được quyền chiếm hữu các đảo ở eo biển Măng Sơ vẫn thuộc về người Anh, trừ trong một thời gian ngắn khi tranh chấp xảy ra. Toà án Pháp lý quốc tế quy định, dù rằng nhà vua Pháp đã có danh nghĩa phong kiến ban đầu đối với nhóm đảo Măng Sơ, nhưng danh nghĩa đó đã mất hiệu lực và hiện tại không tạo nên được một kết quả pháp lý nào. Quyết định của toà án Pháp năm 1204 được coi là không có hiệu lực thi hành, do các vua nước Pháp không trực tiếp chiếm hữu nhóm đảo vào thời điểm ban hành quyết định đó[74].
Có thể kết luận từ vụ Minquiers rằng, những mối liên hệ phong kiến của nước chư hầu sẽ không ảnh hưởng gì đến các yêu sách đối kháng của họ với nước bá chủ về quyền sở hữu đối với lãnh thổ được trao, với điều kiện là nước chư hầu tiếp tục chiếm hữu lãnh thổ một cách độc nhất và đối kháng sau khi mối quan hệ phong kiến đã bị huỷ bỏ hay chấm dứt. Trong bối cảnh tranh chấp tại quần đảo Trường Sa, công thức này đòi hỏi trước tiên phải xác định rõ, thời điểm mà việc chiếm hữu của nước chư hầu trở thành đối kháng. Nếu như việc ký kết Hiệp định Ly - Fournier tháng 5/1884 được coi là thời điểm quyết định những hậu quả của mối liên hệ phong kiến giữa Trung Quốc và Việt Nam về vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa, thì Trung Quốc hoàn toàn có thể biện luận rằng, bất cứ yêu sách nào của Việt Nam về danh nghĩa lịch sử đối với quần đảo Trường Sa, bắt nguồn từ những hành động do nhà nước bảo trợ trước năm 1884, cần phải được coi là thuộc về quyền lợi của Trung Quốc bởi vì, trước thời điểm đó, sự thống trị của Trung Quốc với Việt Nam và những gì thuộc sở hữu của họ vẫn còn được công nhận. Mặt khác, cũng không phải Việt Nam không thể tranh luận rằng, việc gián tiếp công nhận quyền bá chủ của Trung Quốc ngụ ý trong Hiệp định Ly - Fournier chủ yếu chỉ là tượng trưng bởi vì, trước hết, trong vòng một năm Trung Quốc đã có thể từ bỏ yêu sách của mình. Kế đến, Việt Nam có thể tuyên bố rằng, mối liên hệ phong kiến giữa họ với Trung Quốc, chủ yếu là thiết lập bởi việc triều cống ba năm một lần, và việc này vào thế kỷ 19 chỉ là một cử chỉ hư danh[75] và giống như các vua nước Anh trong vụ Minquiers sau năm 1204, thời gian chiếm hữu đối kháng của họ đối với quần đảo Trường Sa đã đủ trước khi Trung Quốc chính thức từ bỏ năm 1885 để thiết lập một yêu sách lịch sử độc lập.
Những vấn đề còn chưa được giải quyết về những yêu sách lịch sử của Trung Quốc và Việt Nam đã khiến cho các học giả tin rằng, dù vị thế lịch sử của mỗi bên có như thế nào, thì cơ sở pháp lý cho cả yêu sách của Việt Nam lẫn Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa đều bắt đầu từ những hiệp định ký vào cuối thế kỷ 19 và từ những hoạt động của những nhà cầm quyền quốc gia quan trọng tại khu vực kể từ thời điểm đó[76]. Bất kỳ một cuộc tranh cãi tiếp theo nào về việc bên nào trong các bên yêu sách có danh nghĩa lịch sử thuyết phục hơn sẽ mãi mãi không đi đến kết quả nào và do đó là vô ích.
c. Các yêu sách lịch sử theo tuyên truyền
Trong khi có thể nhận thấy rõ xu hướng chung trong các tài liệu lịch sử các quốc gia yêu sách đưa ra, là họ đang cố gắng hành động trong khuôn khổ của tiêu chuẩn “chiếm hữu” này, thì có thể thấy, trong các tuyên bố chính thức về quần đảo Trường Sa việc họ tin tưởng vào các yêu sách lịch sử về chủ quyền. Nếu các yêu sách lịch sử như vậy không mấy quan trọng trong dự tính của cộng đồng quốc tế thì điều gì được tính đến cho việc phục hồi những lập luận về các quyền lịch sử trong tranh chấp lãnh thổ như tranh chấp quanh khu vực quần đảo Trường Sa? Vấn đề này có thể được làm sáng tỏ khi xem xét để tìm hiểu xem liệu có phải những biểu hiện kiên trì của các yêu sách này chủ yếu dự định dành cho các thính giả trong nước, nhiều hơn là cho cộng đồng khu vực với hy vọng, những lời kêu gọi về danh nghĩa lịch sử sẽ tỏ ra là công cụ hữu hiệu để động viên tinh thần dân tộc ủng hộ cho các mục tiêu chính sách ngoại giao. Các sự kiện ở cả Trung Quốc và Philippin là những ví dụ.
Sau khi Trung Quốc củng cố việc kiểm soát quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 bằng việc đẩy người Việt Nam ra khỏi những cứ điểm của họ ở đó, chính phủ đã mở một chiến dịch khuếch trương lớn nhằm củng cố thêm yêu sách của Trung Quốc về danh nghĩa lịch sử đối với quần đảo này. Một nhóm khảo cổ đã được cử tới Hoàng Sa để nghiên cứu “lịch sử lâu đời” của Trung Quốc duy trì mối liên hệ và kiểm soát đối với khu vực này. Nhóm này đã biên soạn và xuất bản một tài liệu về các đồ tạo tác tìm thấy ở quần đảo Hoàng Sa, phần lớn trong số đó là các đồ sứ thời đầu nhà Minh. Các “đồ tạo tác” này, lúc đó được miêu tả như sau:
“xác tàu đắm từ nhiều thế kỷ chất lên thành đống, cả tàu nước ngoài và tàu Trung Quốc... (điều này) không xác nhận và cũng không bác bỏ sự hiện diện của Trung Quốc trên quần đảo này, chưa nói tới bất kỳ sự kiểm soát giả định nào đối với các hòn đảo này trong thời cổ đại và trung cổ.”[77]
“Chứng cứ” này đã sớm tạo cơ sở cho nhiều bài báo về lịch sử của quần đảo Hoàng Sa, các triển lãm ảnh về quần đảo và hình ảnh về cuộc sống của những người lính tham gia vào cuộc viễn chinh của Trung Quốc năm 1974 để chiếm đóng Hoàng Sa[78] và thậm chí cả một bộ phim tài liệu do Quân đội Giải phóng nhân dân “PLA” sản xuất năm 1975, với tên “Các hòn đảo của Biển Đông ”. Trong suốt năm 1975, thông tấn Trung Hoa liên tục đưa các câu chuyện và hình ảnh về các đơn vị hải quân PLA và các lực lượng dân quân “anh hùng” ở Hoàng Sa.
Trong khi chủ yếu chiến dịch khuếch trương này rõ ràng nhằm vào những thính giả nước ngoài, thì nó cũng tỏ ra có cùng mục đích đối với trong nước để tăng cường sự ủng hộ của công chúng, không chỉ cho các chuyến đi của Trung Quốc tới Hoàng Sa mà còn cho chính PLA, khi nó trở thành đối tượng phê bình nghiêm khắc của “Bè lũ Bốn tên”[79]. Bằng việc chứng minh “các danh nghĩa lịch sử” của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, ban lãnh đạo của PLA đã tìm được một cơ hội, một mặt bảo vệ họ khỏi những lời buộc tội về sự không trung thực trong chính trị và về trình độ kém cỏi trong kỹ thuật và, mặt khác, tạo nên sự đồng tình của công chúng dành cho họ cũng như làm tăng thêm nhuệ khí trong các lực lượng vũ trang[80]. Vì vậy, đáng chú ý là, dù hoạt động trong năm 1974 ở Hoàng Sa được tiến hành theo sự xúi giục của PLA, vì nó cũng được tiến hành dưới khẩu hiệu bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, nên không bộ phận nào trong giới cầm quyền Trung Quốc, gồm cả cánh “Bè lũ Bốn tên”, dám mạo hiểm về chính trị tới mức chống lại một hoạt động như vậy nếu sự thành công đã chắc chắn[81].
Việc sử dụng quần đảo Trường Sa như một khẩu hiệu lỗi thời để đẩy mạnh chương trình hoạt động trong nước của một nhóm giới chức cụ thể đã được chứng tỏ vào ngày 25 tháng 2 năm 1992, khi Trung Quốc thông qua bộ luật về các vùng nước lãnh thổ mới, tuyên bố, một số quần đảo tranh chấp tại Biển Đông và Nam Trung Quốc, bao gồm cả quần đảo Trường Sa, là lãnh thổ Trung Quốc và bảo lưu quyền sử dụng vũ lực để đánh đuổi những kẻ xâm phạm. Các nhà quan sát đều đồng ý rằng, luật này đã được Quốc hội Nhân dân thông qua dưới sức ép của PLA[82]. Trong những tháng trước khi thông qua luật mới, Phó Chủ tịch tỉnh Hải Nam, Xin Yejiang, đã dẫn đầu một phái đoàn 25 người thực hiện một “cuộc tuần tra” của lực lượng hải quân Trung Quốc quanh Trường Sa -
để dựng lên [một] tượng đài như một biểu hiện nữa về chủ quyền [của Trung Quốc] đối với Trường Sa và vùng nước xung quanh [nó] và như là bằng chứng về quyết tâm (của Trung Quốc) bảo vệ và phát triển quần đảo Trường Sa[83].
Sau khi thông qua luật mới, ngày 22 tháng 2 năm 1992, Chính phủ Trung Quốc tuyên bố, họ sẽ tăng 13,8% ngân sách cho quân đội để phù hợp với chương trình quân sự được trang bị vũ khí kỹ thuật cao và trang thiết bị để tạo nên một hình tượng sức mạnh trên biển[84]. Tháng 4 năm 1992, trong khi tuyên bố đã đến lúc Trung Quốc điều chỉnh lại chiến lược hải quân và cố gắng hơn nữa trong việc giành lại các nguồn tài nguyên dầu lửa và khí đốt trên Biển Đông, Phó Tổng tư lệnh Hải quân Trung Quốc, tướng Zhang Xusan đã khẳng định các kế hoạch của Trung Quốc, dự định trở thành một cường quốc về hải quân trong khu vực thông qua việc phát triển thêm vũ khí hiện đại để bảo vệ các yêu sách của mình đối với các quần đảo trên Biển Đông và để hỗ trợ cho phát triển kinh tế trong vùng[85].
Phản ứng của Phillippin đối với bộ luật mới của Trung Quốc về các vùng nước lãnh thổ cũng phản ánh sự năng động giữa yêu sách của chính họ đối với Trường Sa và những nỗ lực của các bộ phận giới chức địa phương trong việc tạo nên sự ủng hộ trong nước cho các hoạt động ngoại giao khác và mục đích của chính sách quân sự. Trong các cuộc họp do Thượng nghị viện Phillippin tiến hành vào tháng 9 năm 1991, trước khi bỏ phiếu có hay không phê chuẩn hiệp ước cho phép Hoa Kỳ tiếp tục sử dụng quân đội và các căn cứ hải quân tại Phillippine, Bộ trưởng Quốc phòng Renato de Villa trình bày rằng, việc Hoa Kỳ rút quân có thể sẽ gây tác động, làm các nước láng giềng phản đối yêu sách của Phillippin đối với Trường Sa. Sau đó ông nói thêm rằng, Phillippin “chưa được chuẩn bị để đối phó với một cuộc đối đầu quân sự nổ ra tại Trường Sa”[86]. Tổng thống Phillippin Corazon Aquino đã công khai tuyên bố ủng hộ phê chuẩn hiệp ước này, nhưng một nhóm thượng nghị sỹ, có đủ số phiếu làm thất bại việc phê chuẩn, cũng công khai biểu lộ ý định của họ là bỏ phiếu chống lại hiệp ước. Trong khi ấy, Hoa Kỳ tuyên bố, họ sẽ rút 8.000 quân nhân còn lại khỏi Phillippin, nếu Thượng nghị viện không phê chuẩn hiệp ước[87].
Dù cho Thượng nghị viện bác bỏ hiệp ước đề xuất ký kết với Hoa Kỳ, một số nhà hoạch định chính sách của Phillippine vẫn tiếp tục gắn sự bất lực của Phillippin trong việc bảo vệ yêu sách của mình bằng quân sự với sự cần thiết phải giữ lại một hình thức tiếp tục hiện diện nào đó của quân đội Hoa Kỳ tại Phillippine. Việc Trung Quốc ban hành luật lãnh hải mới đã đủ để tạo nên động cơ cho việc mở lại cuộc tranh luận trong giới chức chính phủ Phillippin. Ngày 2 tháng 3 năm 1992, Phó Tổng thống Phillippin Salvador Laurel tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn truyền hình rằng, việc rút quân của Hoa Kỳ khỏi căn cứ tại Phillippin, đã để Philippin trở nên “trơ trọi về chiến lược” và có lẽ, không thể đảm trách được việc tự phòng thủ[88]. Trong khoảng thời gian này, những nguồn tin khác từ chính phủ Phillipin gợi ý rằng, dù cho hiệp ước bị bác bỏ và Hoa Kỳ chuyển giao các căn cứ quân sự cho Philippin, Philippin vẫn có thể dành cho Hoa Kỳ một hình thức nào đó để “tiếp tục tiếp cận” các căn cứ đó theo các điều khoản của Hiệp ước Phòng thủ chung giữa hai nước[89].
Dù chưa bao giờ đạt được thoả thuận dàn xếp cho việc tiếp cận này, những nhà hoạch định chính sách Philippin vẫn tiếp tục gắn việc bảo vệ yêu sách đối với Trường Sa của Philippin với cách giải thích của họ về cam kết của Hoa Kỳ theo Hiệp ước Phòng thủ chung. Ngày 3 tháng 3 năm 1992, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng De Villa tuyên bố, Philippin đã bắt đầu một chương trình hiện đại hoá 10 năm để phát triển lực lượng không quân và hải quân của mình. Tuy nhiên, ông nói thêm, dù có sự nỗ lực này, Philippin vẫn còn nhiều khó khăn trong việc tự phòng thủ chống lại sự xâm lược từ bên ngoài, đặc biệt là ở Trường Sa và vì vậy, trong trường hợp bị tấn công, hy vọng “Hoa Kỳ... tới giúp đỡ chúng ta trong việc bảo vệ (Trường Sa)... theo các điều khoản của Hiệp ước Phòng thủ chung."[90] Điểm này sau đó đã được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Raul Manglapus nhắc lại[91].
Các điều khoản liên quan của Hiệp ước Phòng thủ chung giữa Hoa Kỳ và Philippin có nêu như sau :
Điều IV
Mỗi bên công nhận, một cuộc tấn công vũ trang tại khu vực Thái Bình Dương đối với bất cứ Bên nào đều là nguy hiểm đối với hoà bình và an ninh của chính họ và tuyên bố, sẽ hành động để giải quyết mối nguy hiểm chung theo trình tự hiến pháp của họ quy định.
Bất kỳ một cuộc tấn công vũ trang nào như vậy và mọi biện pháp được tiến hành do kết quả của việc này, sẽ được thông báo ngay tới Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Các biện pháp này sẽ chấm dứt khi Hội đồng Bảo an áp dụng những biện pháp cần thiết để khôi phục và gìn giữ hoà bình và an ninh thế giới.
Điều V
Vì mục đích của Điều IV, một cuộc tấn công vũ trang được coi là bao gồm việc tấn công vũ trang vào lãnh thổ chính của bất cứ bên nào, hay vào các lãnh thổ trên các đảo thuộc quyền tài phán của họ trên Thái Bình Dương, hay vào các lực lượng vũ trang, tàu thuyền công cộng và máy bay của họ trên Thái Bình Dương[92].
Những điều trên chứng tỏ, Hoa Kỳ không hề có một cam kết rõ ràng sẽ “bảo vệ” Philippin nếu Trường Sa, hay, thực tế là bất kỳ phần lãnh thổ nào của Philippin, bị một lực lượng thứ ba tấn công. Một hành động như vậy sẽ chỉ được coi là “nguy hiểm” khi Hoa Kỳ cho là như vậy và phản ứng phù hợp sẽ phải tùy thuộc vào việc tuân thủ “các trình tự hiến pháp” của Hoa Kỳ. Một lời tuyên chiến, hay thậm chí là một quyết định cử các đơn vị quân đội để giúp đỡ Philippin, đầu tiên phải có sự nhất trí giữa Tổng thống và Thượng nghị viện Hoa Kỳ về sự đúng đắn của hành động đó. Thứ hai, định nghĩa vùng trong Điều V về nơi mà cuộc tấn công vũ trang như vậy bị coi là nguy hiểm, thì cũng khá mù mờ để chứng minh rằng, vùng này không động chạm tới Trường Sa.
Dù Hoa Kỳ đã công khai tuyên bố rằng, họ phản đối việc sử dụng vũ lực bởi bất cứ bên nào để ủng hộ yêu sách của họ đối với Trường Sa, Hoa Kỳ vẫn chưa chính thức ủng hộ yêu sách của Philippin hay bất cứ bên nào khác. Thay vào đó, Hoa Kỳ gợi ý rằng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (“ASEAN”) huy động áp lực chính trị để ngăn cản bất cứ quốc gia nào muốn hành động như vậy bởi vì,
“về quần đảo Trường Sa, có một lịch sử về các nghĩa vụ quốc tế, các cam kết [mà Hoa Kỳ] đưa ra và chúng giới hạn chính xác những gì [họ] có thể làm.”[93]
Tuy nhiên, có tin rằng, các nguồn tin “không chính thức” từ Đại Sứ quán Hoa Kỳ tại Manila đã thẳng thừng khẳng định, Hoa Kỳ không có nghĩa vụ giúp Philippin nếu Trường Sa bị tấn công vì Trường Sa là lãnh thổ bị tranh chấp[94].
Những thảo luận trên đây chứng tỏ các yêu sách lịch sử có thể hữu ích như thế nào đối với giới chức địa phương, hay các phân nhóm trong giới chức đó, vì họ dễ dàng vận dụng chúng làm các phương tiện tuyên truyền để tạo nên sự ủng hộ cho các quyết định về chính sách đối ngoại, cụ thể qua việc kêu gọi các tình cảm dân tộc chủ nghĩa. Kết quả của việc thực hiện chiến lược này rất đa dạng. Tại Trung Quốc, nó đã giúp củng cố vững chắc cơ sở sức mạnh trong nước của PLA, trong khi tại Philippin có thể nó đã đánh lừa các nhà hoạch định chính sách, khiến cho họ đưa ra những quy kết vô trách nhiệm và nguy hiểm rằng, bất kể mối quan tâm đã bị giảm sút nhiều đối với Philippin của các nhà chiến lược Hoa Kỳ do việc tháo dỡ các căn cứ quân sự và hải quân ở đó, Hoa Kỳ vẫn sẽ ủng hộ về quân sự cho Philippin để đẩy lùi bất cứ cuộc tấn công nào của lực lượng thứ ba vào phần quần đảo Trường Sa mà Philippin yêu sách. Dẫu sao, rõ ràng những lời kêu gọi về danh nghĩa lịch sử này không thể tạo nên một cơ sở chấp nhận được cho việc giải quyết vấn đề chủ quyền đối với việc tranh chấp quần đảo Trường Sa. Do vậy, nên từ bỏ việc kiểm tra các tài liệu lịch sử để chuyển sang phân tích một cách nghiêm túc hơn hai cơ sở pháp lý khác làm cơ sở ủng hộ các yêu sách về chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa.
Bài viết đã được trình bày tại Hội nghị Bàn tròn về "Tranh chấp quần đảo Trường Sa" tổ chức tại Trung tâm Pháp luật của trường Đại học tổng hợp Philippin vào ngày 27/1/1993. Bài viết này là một phần của luận án tiến sĩ của tác giả tại trường Đại học Luật Yale. Thành phần tham gia hội nghị là các học giả và tướng cấp cao Philippin.
[1]Xem, Tao Cheng “Tranh chấp đối với các đảo ở Biển Đông”, 10 Tạp chí Luật quốc tế Texas 265(1975); Hungdah Chiu và Choon-ho Park, “Quy chế pháp lý của các quần đảo Paracel (Hoàng Sa) và Spratly (Trường Sa)”, 3,Tạp chí Luật quốc tế và Phát triển biển 1(1975); Diane C. Drigot “Mối quan tâm về dầu lửa, một yếu tố trong yêu sách của Philippin và những tranh chấp lãnh thổ trên biển ở Biển Đông”, 8 Luật Quốc tế Yrbk Philippin 39 (1982).
[2]Xem, Peter Polomka, Chính trị biển ở Đông Nam Á (Singapore, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, 1978); Lee Yong Leng, Đông Nam Á và Luật Biển: Một số ý kiến chính trị về địa lý chính trị các biển vùng Đông Nam Á (Singapore, Nxb. trường Đại học tổng hợp Singapore, 1980); Jorge Coquia, “Phân tích thuyết quốc gia quần đảo trong công ước mới về Luật Biển”, trong cuốn Những bài viết chọn lọc về Luật Biển, ấn phẩm của Ban thư ký Uỷ ban Chính phủ về Hiệp ước Luật Biển, chuyên khảo, số 1 (Manila: Nxb. Viện Phát triển Philippin, 1982); Miriam Defensor-Santiago, Khái niệm quần đảo trong Luật Biển: Những vấn đề và triển vọng, ấn phẩm của Ban thư ký Uỷ ban Chính phủ về Hiệp ước Luật Biển, chuyên khảo, số 2 (Manila: Nxb. Viện Phát triển Philippin, 1982); Phiphat Tansubkol, ASEAN và Luật Biển (Singapore: Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, 1982); Phiphat Tansubkol, Các quốc gia quần đảo Đông Nam Á: Khái niệm, quá trình phát triển và thực tiễn hiện nay (Honolulu: Viện Nghiên cứu môi trường và chính sách Đông-Tây, 1984); Hội thảo quốc tế về Luật Biển mới ở Đông Nam Á: Những kết quả phát triển và hướng tiếp cận của khu vực, Douglas M. Johnston, và những người khác, biên soạn. (Halifax, Nova Scotia: Chương trình nghiên cứu đại dương Dalhousie, 1985); Kriangsak Kittichaisaree,Luật Biển và hoạnh định ranh giới biển ở Đông Nam Á (Singapore-London-New York: Nxb. trường Đại học tổng hợp Oxford, 1987; Tạo lập ranh giới biển: Các biến động và các vấn đề khu vực, Douglas M. Johnston & Philip M. Saunders, biên soạn. (London-New York: Croom Helm, 1988).
[3]Kittichaisaree, tr.139. Các nguồn tin khác cũng lưu ý rằng, tranh chấp giữa Việt Nam và Indonesia không liên quan đến quyền sở hữu các đảo mà chỉ liên quan đến quyền tài phán đối với vùng nước xung quanh (Douglas M. Johnston & Mark Valencia, Các vấn đề ranh giới biển Thái Bình Dương: Quy chế và giải pháp, Q.16, ấn phẩm về phát triển đại dương (Dordrecht-Boston-London; Nxb. Martinus Nijhoff, 1991), tr.130.
[4] Quần đảo Trường Sa có thể được xác định là gồm các đảo nằm giữa vĩ tuyến 40 và 110 30’B và kinh tuyến 109 30’Đ. Nó trải dài trên khoảng 1.000 km, từ Bắc xuống Nam. Những khoảng cách gần bờ, tính theo cách đo điểm gần nhất bao gồm: 650 km về phía Đông của bờ biển Việt Nam; 750 km về phía Nam của quần đảo Hoàng Sa; 1.000 km từ đảo Hải Nam của Trung Quốc tới điểm tận cùng phía Bắc của quần đảo Trường Sa; 250 km kể từ bờ biển Sabah; 160 km kể từ bờ biển Sarawak của Malaysia và 100 km về phía Tây của đảo Palawan, Philippin. (Xem,Từ điển địa lý, Marwyn Samuels, Cuộc tranh cãi về Biển Đông (New York & London; Methuen, 1982). Tuy nhiên, lưu ý rằng do các đảo ở khu vực này ban đầu là những đảo san hô, do vậy có một quá trình liên tục hình thành đảo đang diễn ra. Ở quần đảo Trường Sa có thể dẫn tới sự hình thành các đảo hay nhóm đảo mới chưa được ghi tên lên bản đồ. Nhằm tránh sự nhầm lẫn khi đề cập đến “đảo Trường Sa” hiện do Việt Nam chiếm giữ và toàn bộ bản thân quần đảo, trong bài viết này sẽ đề cập đến toàn bộ quần đảo là “Spratly archipelago “ (quần đảo Trường Sa) hoặc “Spratlys” (Trường Sa).
Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam yêu sách toàn bộ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Philippin chủ yếu chỉ yêu sách vùng phía Tây của quần đảo Trường Sa nằm gần nhất với đảo Palawan của họ, nhưng cũng bao gồm hầu hết những đảo lớn của quần đảo này. Malaysia chỉ yêu sách ba đảo mà hiện họ đang chiếm giữ và cả đảo Amboyna Cay (An Bang) do Việt Nam chiếm giữ.
Ngoài năm nước yêu sách nói trên, Brunei cũng đã nêu yêu sách đối với đá Louisa (Luxia), một trong những “bãi phía Nam” của quần đảo Trường Sa, tuy nhiên, nó thường xuyên ngập dưới mặt nước. (Xem, Tuyên bố của Hoàng tử Mohamad Bolkiah, Ngoại trưởng Brunei, với Reuters, ngày 26/1/1992). Có ý kiến cho rằng Brunei “về mặt địa lý có thể được xếp vào loại” có quyền yêu sách như vậy (Johnston & Valencia, tr.59). Tuy nhiên, do thực tế là đá Louisa (Luxia) gần như là hoàn toàn ngập dưới mặt nước khi triều lên, Brunei không duy trì sự có mặt chính thức về quân sự trên quần đảo Trường Sa (United Press Int’l., ngày 9/2/1992).
[5]Việt Nam đã chiếm giữ 25 đảo với căn cứ chính trên đảo Spratly (Trường Sa). Philippin giữ tám đảo với căn cứ trên đảo Thi Tu (“Pagasa”). Trung Quốc giữ tám đảo. Malaysia có ba đảo và đã mở cửa đảo đá Swallow (“Terumbu Layang-Layang”) - (Hoa Lau) làm một khu du lịch. Đài Loan giữ đảo Itu Aba (Ba Bình), đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa. (Dịch vụ thông tấn quốc tế, ngày 19/7/1991, The Christian Science Monitor, ngày 15/7/1991).
[6]Năm 1971, Philippin đổ quân lên sáu đảo thuộc quần đảo Trường Sa sau khi những phản đối về mặt ngoại giao không ngăn trở được sự phát sinh những sự kiện có dính líu đến đụng độ quân sự với hải quân Đài Loan (Xem, Haydee Yorac, “Yêu sách của Philippin đối với nhóm đảo Trường Sa”, 58, Phil. L.J. 45 [1983]).
[7]Lỗ Chí Kiên, Chính sách của Trung Quốc về những tranh chấp lãnh thổ: Trường hợp các đảo ở Biển Đông (London & New York; Routledge, 1989) tr.146. Quân đội của (Bắc) Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã giành quyền kiểm soát các vị trí của Nam Việt Nam tháng 4/1975.
[8]Các nguồn tin của Trung Quốc cho biết, Hải quân Trung Quốc đã làm đắm một tầu của Việt Nam và làm hư hỏng hai tầu chở hàng gần đảo Sin Cowe (Sinh Tồn) thuộc bãi Union (Cụm Sinh Tồn) trong “Khu vực nguy hiểm” của quần đảo Trường Sa . Việt Nam đưa tin là có ba người bị thương và 74 người bị mất tích sau trận chiến (Thời báo Los Angeles, ngày 17/3/1988; Reuters, ngày 15/3/1988).
[9]Đảo lớn nhất của quần đảo, Itu Aba (Ba Bình) chỉ có 1,2 km (0,75 dặm) chiều dài và vẻn vẹn 336 m (1.100 feet) chiều rộng. Tất cả các đảo quan trọng nhất, bao gồm: Itu Aba (Ba Bình), ThiTu (Thị Tứ), Loai Ta (Loại Ta), Nam Yit (Nam Yết) và đảo Trường Sa đều nằm ở rìa phía Tây của quần đảo. Dấu hiệu phân biệt chính của chúng là sự tồn tại của nước ngọt, và trong trường hợp đảo Itu Aba (Ba Bình) và Trường Sa là có những mỏ phân chim (Samuels, Từ điển Địa lý).
[10]Choon - Ho Park, “Các tranh chấp ở Biển Đông : Ai là chủ sở hữu của các đảo và các nguồn tài nguyên thiên nhiên?,” 1, Tạp chí Luật quốc tế và phát triển biển 27 (1973), tr.37. Xem thêm, Chiu & Park, tr.20.
[11]Công ước về Luật Biển (“LOS”) được ký kết bởi 155 quốc gia khi kết thúc Hội nghị quốc tế lần thứ III về luật biển UNCLOS III quy định tại Điều 122 rằng, một “biển kín hay nửa kín” là một “vùng biển do hai hay nhiều quốc gia bao bọc xung quanh và thông với một biển khác hay với đại dương qua một cửa hẹp, hoặc là hoàn toàn hay chủ yếu do các lãnh hải và các vùng đặc quyền về kinh tế của hai hay nhiều quốc gia tạo thành.”
[12]Tuyên bố ngày 12/5/1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế (Bắc Mỹ, châu Á - Thái Bình Dương và sự phát triển của luật biển, M. Nordquist & Choon-Ho Park, biên soạn, tập .2 (London-Rome-New York; Ấn phẩm về đại dương, Inc., 1981). Đoạn 5 của Tuyên bố quy định rằng “các đảo và quần đảo thuộc lãnh thổ của Việt Nam ở ngoài vùng lãnh hải của Việt Nam ... đều có lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.” Ở đây là đề cập tới quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa vốn đã được gộp vào các tỉnh đất liền của Việt Nam với mục đích quản lý hành chính trong nước.
[13]Nghị định số 1596 của Tổng thống, ban hành ngày 11/6/1978. Luật về sáp nhập quần đảo Trường Sa vào trong đường cơ sở đang có của Philippin, được biết đến với cái tên là Đạo luật của nghị viện số 206, đã bị lưu lại ở Nghị viện Philippin kể từ khi được Chủ tịch Uỷ ban quan hệ quốc tế đệ trình năm 1987.
[14]Nghị định số 1599 của Tổng thống, cũng ban hành ngày 11/6/1978. Lưu ý, Nghị định số 1596 của Tổng thống, tuyên bố việc sáp nhập phần phía Tây của quần đảo Trường Sa không xác định rõ là có phải quần đảo đã được sáp nhập vào bên trong đường cơ sở đang có của Philippin hay không, như được xác định bởi Đạo luật Cộng hoà số 3046(1961) và 5446 (1968), hay được coi là một quần đảo riêng biệt được đưa vào dưới quyền tài phán của Philippin. Vì Nghị định số 1599 của Tổng thống không xác định rõ là vùng đặc quyền kinh tế được xác định như thế nào, do vậy cũng không rõ là các vùng biển quanh quần đảo Trường Sa sẽ được vạch như thế nào.
[15]Tháng 12/1979, lần đầu tiên Malaysia yêu sách đảo Amboyna Cay (An Bang) ở phía Tây quần đảo Trường Sa và đá Swallow (Hoa Lau) và đá Louisa (Luxia) ở phía Nam quần đảo Trường Sa là một phần thềm lục địa của họ (Samuels, tr.163). Một bản đồ về các vùng nước lãnh thổ của Malaysia phản ánh sự hợp nhất này đã được xuất bản vào ngày 14/4/1980 (Các bản tin của Đài phát thanh nước Anh, ngày 14/4/1980).
[16]Các báo cáo của thư viện Reuters, ngày 26/2/1992. Ví dụ như, đạo luật của Trung Quốc đã được áp dụng với các đảo Senkaku hay Diaoyutai nằm ở biển Đông Trung Hoa cách Đài Loan 90 hải lý về phía Đông Bắc mà Nhật Bản và Đài Loan cũng yêu sách.
[17]Các bản tin của Đài phát thanh nước Anh, ngày 3/3/1992.
[18]Các bản tin của Đài phát thanh nước Anh, ngày 23/7/1991.
[20]Thông tấn Pháp, ngày 3/11/1991; Boston Globe, ngày 22/7/1991. Hội nghị Băng Đung là hội nghị tại đó, lần đầu tiên Trung Quốc và Đài Loan đồng ý tham gia những cuộc nói chuyện về vấn đề tương lai của quần đảo Trường Sa (Thời báo Los Angeles, ngày 16/7/1991). Trung Quốc đã tẩy chay một cuộc thảo luận không chính thức tương tự về tranh chấp đối với quần đảo Trường Sa do Hiệp hội các nước Đông Nam Á (“ASEAN”) tổ chức tại Bali, Indonesia vào tháng 1/1991 (Dịch vụ thông tấn quốc tế, ngày 19/7/1991).
[21]Thời báo Los Angeles, ngày 16/7/1991; Tuần báo Nikkei, ngày 27/7/1991.
[22]Tuyên bố của Wang Yingfan, Vụ trưởng Vụ Châu Á, Bộ Ngoại giao Trung Quốc và trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc tham gia Hội nghị Băng Đung, theo thông tin từ Dịch vụ Thông tin Kyodo, ngày 18/7/1991; Các bản tin của Đài phát thanh nước Anh, ngày 30/7/1991.
[23] Tháng 4/1988, pháo hạm của Malaysia đã bắt giữ bốn tầu đánh cá của Philippin ngoài khơi đá Comodore (Công Đo), cầm tù 49 dân chài Philippin trên tầu và truy tố họ về tội vi phạm Luật Đánh cá năm 1985 của Malaysia. (Nguồn tin thông tấn quốc tế, ngày 16/9/1988). Mặc dù Toà án Tối cao Malaysia tại Kota Kinabalu, Sabah thấy rằng các tầu này đã đánh cá trong vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia, Toà đã tuyên bố họ vô tội do nhầm lẫn (Xem, Quyết định của Hon. Raymond Wong, ngày 1/8/1988). Chính phủ Malaysia tuyên bố sẽ kháng cáo quyết định này, nhưng sau khi có đại diện ngoại giao của Bộ Ngoại giao Philippin, đại diện cho những dân chài bị giam giữ cũng như có lời thỉnh cầu của Tổng thống Philippin, Corazon Aquino tới Thủ tướng Malaysia, Mahatir Mohammad, đã không có kháng cáo nào được đệ trình. Những người dân chài đã được thả ra vào tháng 9/1988 sau khi một người đã chết trong khi bị cầm tù.
Tháng 3/1992, Hải quân Philippin đã bắt giữ bẩy dân chài Trung Quốc vì lý do đánh cá tại khu vực cấm ở ngoài khơi đảo Pag-asa (Thị Tứ), đảo lớn nhất mà Philippin chiếm giữ trong quần đảo Trường Sa (Các bản tin của Đài phát thanh nước Anh, ngày 24/3/1992). Bộ Ngoại giao Trung Quốc phản đối vụ bắt giữ này, tuyên bố rằng “Không có lý do nào để tranh cãi về việc Trung Quốc có chủ quyền đối với quần đảo Nam Sa (quần đảo Trường Sa) và vùng biển xung quanh” (Thông tin kinh tế Nhật Bản, ngày 24/3/1992). Sau “những dàn xếp và hội đàm thân thiện” những dân chài đã được thả ra vào tháng 4/1992 (Reuters, ngày 1/4/1992).
[26]Các quốc gia yêu sách có thể sẽ phải đối mặt với tình cảnh này sớm hơn là họ tưởng. Với một hành động không ngờ, gần đây Trung Quốc đã ký một hợp đồng khai thác dầu lửa, cho phép Công ty Crestone-Energy, một công ty của Mỹ, hoạt động tại một lô 9.700 m2 ở Biển Đông, nơi Việt Nam cũng có yêu sách. Randall Thomson, Chủ tịch Creston tuyên bố rằng, mặc dù công ty đã biết quyền tài phán đối với khu vực này đang bị tranh chấp, nhưng công ty vẫn ký hợp đồng vì Trung Quốc đã bảo đảm họ sẽ sử dụng toàn bộ khả năng hải quân để bảo vệ cho những hoạt động của công ty. (Thời báo New York, ngày 18/6/1992).
[28]Dẫn chứng về tư tưởng này được phản ánh trong những tuyên bố của các vị sau: Ngày 1/9/1991 Reuters đã trích lời của Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia nói rằng, tiền của đổ ra để xây dựng Đá Swallow (Hoa Lau) “không là gì khi so sánh với việc bảo vệ chủ quyền quốc gia và tầm quan trọng kinh tế và chiến lược của các đảo san hô”. Ngày 16/6/1991, Thời báo Los Angeles trích lời của Trung tướng Lisandro Abadia, Tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang Philippin rằng “ có những biểu hiện rõ ràng rằng, đấu trường tranh chấp trong tương lai có thể sẽ chuyển sang vùng biển, đặc biệt là những tranh chấp về lãnh thổ đối với quần đảo Trường Sa”; Ngày 16/6/1991, Reuters trích lời của Đại sứ Philippin tại Malaysia, Rodolfo Severino rằng, khó có thể phát triển các nguồn tài nguyên ở quần đảo Trường Sa nếu trước tiên không dàn xếp các tranh chấp trên biển; Ngày 28/11/1989, Tân Hoa Xã đã trích lời của lãnh đạo đảng chiếm đa số trong Nghị viện Philippin, Teofisto Guingona, thúc giục đoàn đại biểu của Philippin đàm phán một hiệp định ranh giới biển với Malaysia để khẳng định “các quyền lãnh thổ” của Philippin.
[29]Lưu ý rằng dù thông cáo chung do các thành viên tham gia đưa ra cuối Hội nghị Băng Đung có nói rằng “bất kỳ tranh chấp tài phán và lãnh thổ nào ở khu vực Biển Đông cũng nên được giải quyết bằng các biện pháp hoà bình thông qua đối thoại và đàm phán.” (Tuần báo Nikkei, ngày 22/7/1991). Nhưng Chủ tịch Hội nghị Băng Đung, Ngoại trưởng Indonesia Ali Alatas đã chỉ ra rằng “nếu [các đại biểu] bắt đầu bằng các yêu sách chủ quyền, [hội nghị] sẽ ngay lập tức đi đến chỗ bế tắc.” (Dịch vụ Thông tấn quốc tế, ngày 19/7/1991).
[31]Lỗ Chí Kiên, tr.167, 194; Chiu & Park, tr.4; Kittichaisaree, tr.137-150; Yorac, “Yêu sách của Philippin đối với quần đảo Trường Sa”; Ted L. McDorman, “Các vấn đề về hoạch định ranh giới biển đặc biệt ở biển Đông Nam Á” 10, Phil. Yrbk. Luật quốc tế 52, 65 (1984). Xem thêm, nói chung, Hiran W.Jayawardene, Chế độ các đảo trong luật quốc tế, Q.15 Các ấn phẩm về phát triển quốc tế (Dordrecht-Boston-London: Nxb. Martinus Nijhoff, 1989). Tuy nhiên, lưu ý đến một xu hướng đối ngược rõ ràng trong những ấn phẩm gần đây, Johnston & Valencia, Các vấn đề biên giới biển.
[32] Tham khảo các yêu sách của “Trung Quốc” về danh nghĩa lịch sử đối với quần đảo Trường Sa nên được coi là bao gồm của cả Cộng hoà Nhân dân (sau đây được gọi là Trung Quốc) và Đài Loan, được gọi là Cộng hoà Trung Quốc. Sẽ không sai khi khẳng định, phạm vi yêu sách lịch sử của cả hai thực thể này trùng nhau, vì mỗi bên đều yêu sách là người kế thừa toàn bộ các quyền thuộc về Trung Quốc, trước khi nước này trên thực tế bị phân chia năm 1949. Trung Quốc đã không phản đối việc Đài Loan chiếm giữ đảo Itu Aba (Ba Bình) ở quần đảo Trường Sa, chủ yếu vì mãi cho tới năm 1988, quân đồn trú của Đài Loan trên đảo này là sự tồn tại liên tục duy nhất của “Trung Quốc” trên quần đảo.
Nếu trong tương lai, Đài Loan tuyên bố việc tách biệt về mặt pháp lý ra khỏi Trung Quốc, có vẻ do vậy, Đài Loan sẽ phải từ bỏ các yêu sách của mình đối với quần đảo Trường Sa trên cơ sở danh nghĩa lịch sử, và với tư cách là một quốc gia mới, phải dựa trên các cơ sở khác để thủ đắc danh nghĩa như vậy. Do Đài Loan là quốc gia đầu tiên đóng quân trên đảo Itu Aba (Ba Bình) sau Chiến tranh thế giới II, yêu sách mạnh mẽ nhất của họ về quyền sở hữu đối với quần đảo Trường Sa sẽ dựa trên cơ sở việc chiếm hữu đảo lớn nhất trong quần đảo.
Philippin cũng đã cố gắng thiết lập yêu sách của họ đối với quần đảo Trường Sa dựa trên danh nghĩa lịch sử. Biểu hiện sớm nhất sự quan tâm của Philippin đối với quần đảo Trường Sa được ghi nhận vào năm 1947, khi Bộ trưởng Ngoại giao Philippin, Carlos P. Garcia biện hộ rằng, Quần đảo mới phía Nam, thực thể do Nhật Bản thiết lập để quản lý cả quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa năm 1939 và trong suốt cuộc chiến tranh, được chuyển cho Philippin như một bảo đảm về an ninh. Yêu cầu này dựa trên thực tế là, đảo Itu Aba (Ba Bình) đã được sử dụng làm căn cứ để Nhật Bản xâm lược Philippin trong cuộc chiến tranh (Cheng, tr.270, trích Ta Kung Pao [Thượng Hải], ngày 26/1/1947). Ngày 28/7/1947, vài tháng sau tuyên bố này, Philippin đã chấp nhận một đề xuất của Mỹ về việc triệu tập một hội nghị giữa mười một thành viên của Uỷ ban Viễn Đông để soạn thảo một hoà ước với Nhật Bản (Phòng thông tin quốc gia Mỹ, Q.XVIII, Số 426, ngày 31/8/1947, tr.436). Uỷ ban Viễn Đông đã được thành lập để soạn thảo các chính sách, nguyên tắc và tiêu chuẩn buộc Nhật Bản tuân thủ các nghĩa vụ của mình theo Tuyên bố Potsdam khi đầu hàng (Sđd, ngày 24/8/1947, tr.395). Tuy nhiên, tại Hội nghị Hoà bình San Francisco năm 1951 về dự thảo Hoà ước với Nhật Bản, khác với Việt Nam, Philippin đã không đưa ra yêu sách đối với các đảo ở Biển Đông (Xem, Các ý kiến của Carlos P.Romulo, Bộ trưởng Ngoại gia trong phiên họp toàn thể thứ sáu, Biên bản hội nghị: Hội nghị kết thúc và ký kết hoà ước với Nhật Bản, San Francisco, California, ngày 4-8/9/1951, Phòng xuất bản quốc gia Mỹ, Hội thảo và Tổ chức quốc tế, đợt phát hành II, Viễn Đông ngày 3/12/1951, tr.224-233). Ý kiến của ông Trần Văn Hữu, Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam về quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đã được đưa ra tại phiên họp toàn thể thứ bẩy (Biên bản hội nghị, tr.263; xem thêm, chú thích 108 ở dưới).
Trong khi những hành vi không rõ ràng này khó có thể tạo nên cơ sở cho yêu sách của Philippin về danh nghĩa lịch sử ngang bằng với Trung Quốc hay Việt Nam, Philippin đã ghi nhận một yêu sách danh nghĩa lịch sử đối với quần đảo Trường Sa khi soạn thảo luật trong nước. Hiến pháp Philippin 1973 và 1987 đều bao gồm định nghĩa “lãnh thổ Philippin” bao gồm những tham chiếu đến “lãnh thổ trên đó [Philippin] có danh nghĩa lịch sử” (Đ.I, Hiến pháp 1973) hay đến “lãnh thổ trên đó Philippine có chủ quyền và quyền tài phán” (Đ.I, Hiến pháp 1987). Điều khoản năm 1973 đầu tiên đề cập đến yêu sách vẫn chưa được giải quyết đối với Sabah, nơi Philippin vẫn đang bảo vệ chống lại Malaysia, kể từ khi Malaysia độc lập năm 1957. Tuy nhiên, với phát kiến năm 1956 của Tomas Cloma về “Các đảo Kalayan” thuộc vùng quần đảo Trường Sa, người Philippin đã mở rộng giải thích của điều khoản này nhằm bao hàm yêu sách của mình đối với cả quần đảo Trường Sa. Theo đó, Nghị định Tổng thống số 1596 ban hành năm 1978 đã khẳng định việc sáp nhập các đảo Kalayaan thành một phần của Philippin trên cơ sở “lịch sử”, và những cơ sở khác.
[33]Tập hợp tài liệu về quan hệ đối ngoại của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (Bắc Kinh: Bộ Ngoại giao, 1961), Q.2, tr.32; trích dẫn trong Samuels, tr. 79.
[34]Shao Hsun-Cheng, “Các đảo của Trung Quốc ở Biển Đông”, Nhân dân Trung Hoa, Q.13, tr.27 (1956), trích dẫn trong Samuels, Phụ lục C; xem thêm Lỗ Chí Kiên, tr. 30.
[35]Lỗ Chí Kiên, các trang 34, 113; cũng được trích dẫn trong Samuels, Phụ lục C. “Xisha” là nói tới quần đảo Hoàng Sa và “Nansha” là nói tới quần đảo Trường Sa.
[36]Bộ Ngoại giao Việt Nam xuất bản Sách Trắng I ngày 27/9/1979 và Sách Trắng II ngày 18/1/1982. “Hoàng Sa” là đề cập đến quần đảo Paracels và "Trường Sa" là đề cập đến quần đảo Spratlys.
[37]Sách Trắng I & II; cũng xem Samuels, Phụ lục C. “Biển Đông” là đề cập tới Biển Đông.
[38]Xem, “Phủ biên tạp lục” (Tạp ký về vùng biên) vào khoảng năm 1784, trích trong Sách Trắng II.
[39]Xem, “Đại Nam thực lục chính biên” (“Biên niên sử chính thức của nước Đại Nam”) vào khoảng năm 1830 và “Đại Nam nhất thống đồ” (“Bản đồ chi tiết của nước Đại Nam”) vào khoảng năm 1838, sử dụng một phần thông tin do một phái đoàn được cử tới nhóm đảo dưới thời vua Minh Mệnh thu thập được, trích dẫn trong Sách Trắng II.
[44]Sđd., tr.36. Tuy nhiên Samuels lưu ý rằng, cái tên “Ch’ien - li shih - t’ang” thường là đề cập đến bãi ngầm Macclesfield và rằng, chỉ vì khoảng cách rộng giữa hai nhóm đảo mô tả trong bản đồ đi kèm nên dẫn đến kết luận đó là đề cập tới quần đảo Trường Sa. Xem thêm, Chiu & Park, tr.10.
[45]Tuy nhiên Samuels, tr.38; Chiu & Park, tr.10, đã trích dẫn một ấn phẩm của nhà Minh thế kỷ 16 mang tên “Hai - yu” hay “Trên biển” sử dụng tên “Wan - li chang - sha” để chỉ quần đảo Trường Sa.
[47]Quần đảo Trường Sa đã được thừa nhận là thường bị nhầm lẫn với quần đảo Hoàng Sa trong tài liệu lịch sử của Trung Quốc. Xem, Chiu & Park, tr.10.
[48]Riêng theo tiêu chuẩn về khoảng cách, một quần đảo này tách biệt với một quần đảo khác khi chúng cách nhau khoảng 230 hải lý. Chiu & Park, tr.5.
[49]Trung Quốc yêu sách rằng nhóm đảo mà Việt Nam xác định là “Trường Sa”, đề cập đến nhóm đảo nằm gần bờ biển phía Nam của Việt Nam, chứ không phải là quần đảo Trường Sa (Tuyên bố của bộ Ngoại giao năm 1980, chú thích 35 ở trên.). Philippin lập luận rằng, “Trường Sa” mà Việt Nam yêu sách chỉ là đề cập đến nhóm gồm 7 đảo, trong đó đảo Trường Sa là lớn nhất và khẳng định rằng, yêu sách của Philippin bao gồm tất cả các đảo khác ở bên ngoài đơn vị địa lý đó. (Xem chú thích 193 ở dưới).
[50]Samuels, tr.40; Tài liệu lịch sử sớm nhất của phương Tây có phân biệt hai quần đảo là kết quả của cuộc khảo sát do đoàn thám hiểm của Kergiaou - Locmaria thực hiện (1887 - 1888) cùng thời điểm với Công ước Pháp - Thanh 1887 về phân định biên giới Đông Dương (Xem Chú thích 96 ở trên), “Yêu sách của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Phụ trương đặc biệt, Bộ Ngoại giao Việt Nam.
[51]Douglas M. Johnston, Lý thuyết và lịch sử của việc tạo lập biên giới biển (Kingston & Montreal: Nxb. trường Đại học tổng hợp McGill - Queen, 1998) tr.5.
[53]Đảo Palmas, 22 AJIL 867 (1928); Chủ quyền đối với đảo Clipperton, 26 AJIL 390 (1931); Quy chế pháp lý của Đông Greenland, Hudson, Các báo cáo của Tòa án quốc tế, Q.III, tr.148 (1933); Nhóm đảo Minquiers và Ecrehos, 1953 Các báo cáo của Toà án Pháp lý quốc tế (ICJ) 47.
[64]D.R. Sar Desai, Việt Nam: Những thử thách và nỗi khổ cực của một dân tộc (Long Beach, California: Nxb. Long Beach, 1988) tr.26 - 27.
[65]Chuyến đi của vua Gia Long đến quần đảo Hoàng Sa đã được một tác giả người Pháp đương thời ghi lại, người này là cố vấn cho vua An Nam. Xem, J.B. Chaigneau, “Le Memoire sur cochinchine” được in trong “Bulletin des amis du Vieux Huej” 1820, trích trong Sách Trắng II. Xem thêm, Chiu & Park, tr.7.
[66]Hiệp ước Hoà bình và Hữu nghị giữa Pháp, Tây Ban Nha và An Nam, ngày 5/6/1862 ký tại Sài gòn, Martens, Nouveau Recueil General de Traites, lần 1. Quyển XVII, tr.169.
[67]Hiệp ước Hoà bình và Liên minh, ký tại Sài Gòn, ngày 15/3/1874 (Martens, Nouveau Recueil General de Traites, lần 2. Quyển II), tr.206.
[68] Điều 2 và 3, Hiệp ước ngày 11/5/1884, ký tại Thiên Tân, 163 CTS 498.
[75]Trật tự truyền thống của Trung Quốc là theo thứ bậc chứ không phải ngang bằng. Nói chung, mối quan hệ giữa các hoàng đế Trung Hoa và láng giềng, dựa trên cơ sở quan hệ triều cống, theo đó Trung Quốc nhận được sự đền đáp cho việc họ bảo hộ cho các nước láng giềng của mình khi họ còn cường thịnh. Xem, Tzou, B., tr.23. Khi sự ưu việt về chính trị và quân sự của họ lụi tàn vào thế kỷ 19, việc tiếp tục triều cống chủ yếu chỉ còn là hình thức.
[76]Choon - Ho Park, tr.33; Samuels, tr.66; Chiu & Park, tr.6.