23 - 5 - 2012 | 1:21
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Leszek Buszynski, An ninh Biển Đông và giải pháp thực tế

Leszek Buszynski, An ninh Biển Đông và giải pháp thực tế

Email In PDF.
Chỉ mục bài viết
Leszek Buszynski, An ninh Biển Đông và giải pháp thực tế
Page 2
Tất cả các trang

 Đề cập về các thách thức an ninh đối với khu vực Biển Đông và giải pháp thực tế cho tranh chấp tại khu vực này, giáo sư Leszek Buszynski, Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế, Trường đại học quốc tế Nhật Bản, cập nhật bài tham luận tại Hội thảo quốc tế về Biển Đông tại Hà Nội tháng 11/2009 và đăng tại tạp chí “Nam Today” (Ấn Độ) như sau.

 


Vùng Biển Đông, trong đó có quần đảo Spratly, Việt Nam gọi là Trường Sa, Trung Quốc gọi là Nam Sa, quần đảo Paracel, tiếng Việt Nam gọi là Hoàng Sa, tiếng Trung Quốc gọi là Tây Sa và Macclesfield Bank được biết với tên gọi quần đảo Trung Sa. Thống kê chính xác số lượng các đảo ở khu vực này rất khó vì khó xác định giữa các đảo, đảo san hô vòng và đá ngầm, trong đó nhiều đảo chỉ được nhìn thấy khi thuỷ triều xuống thấp. Có số liệu thống kê cho rằng tổng số đảo là 190, trong khi có thống kê lên tới 400 đảo đá, đá ngầm và đảo, thậm chí trong thống kê khác lên tới 650. Số đảo có người ở dao động từ khoảng 48 đến 50 đảo. Lý do chiếm giữ các đảo này có nhiều ý nghĩa bởi một số đảo có thể đồn trú lâu dài, song ở một số đảo san hô chỉ có thể đồn trú trong những thời gian nhất định trong năm; một số khác có thể có bằng chứng về sự có mặt của con người và cho đến nay vẫn được gọi là “có người ở”. Hiện tại, Việt Nam sở hữu 27 đảo và đảo san hô; Philíppin có mặt trên 8 đảo ở phần phía Đông; Trung Quốc chiếm 9 đảo, mặc dù có những thông báo con số này chỉ là 7; Malaixia chiếm 3 đảo và có mặt trên 2 đảo khác; Đài Loan chiếm 1 đảo. Cả Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền hầu như đối với toàn bộ khu vực quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nghĩa là vùng yêu cầu chủ quyền của hai nước này chồng lấn lên các vùng yêu cầu chủ quyền của các nước Philíppin, Malaixia và Brunây. Đến lượt mình, ba nước này cũng lại có các khu vực nhận chủ quyền tiếp giáp lãnh thổ của họ chồng lấn nhau. Philíppin tuyên bố chủ quyền đối với nhóm đảo Kalayaan, là 1 đô thị hạng 5 ở tỉnh Palawan chồng lấn với vùng Malaixia cũng tuyên bố chủ quyền kéo dài từ 2 bang Sarawak/Sabah; Brunây tuyên bố chủ quyền kéo dài từ lãnh thổ nước này chồng lấn với các vùng mà cả Malaixia và Philíppin cũng đều nhận chủ quyền. 


Việt
Nam và Trung Quốc yêu cầu chủ quyền dựa trên cơ sở mối liên hệ lịch sử hoặc với lý do là nước đầu tiên phát hiện. Việt Nam đưa ra lý lẽ rằng họ có mối liên hệ lịch sử với các quần đảo họ tuyên bố chủ quyền từ thời nhà Nguyễn (thế kỷ 16-19). Việt Nam cũng đưa ra lý lẽ về chủ quyền với tư cách là chính quyền thừa kế chế độ thực dân Pháp vốn đã tuyên bố chủ quyền đối với Trường Sa hồi năm 1933. 


Trung Quốc nhận chủ quyền với lý lẽ họ là nước đầu tiên phát hiện ra các quần đảo trên và đã giận dữ phản đối khi Hội nghị San Francisco tháng 9/1951 gạt bỏ quyền sở hữu của Nhật Bản đối với Trường Sa, song lại từ chối trao cho Trung Quốc. 


Philíppin nhận chủ quyền đối với một khu vực liền kề
Palawan trên cơ sở Tomas Cloma là người đầu tiên phát hiện ra vùng được gọi là vùng đất Nullius này. Yêu cầu của Philíppin được Tuyên bố Carloss Garcia tháng 2/1957 ủng hộ và được đưa vào trong tuyên bố của Tổng thống Ferdinand Marcos tháng 7/1971. 

Malaixia yêu cầu chủ quyền đối với các vùng đã nêu dựa trên căn cứ vào thềm lục địa và đã công bố bản đồ khu vực này năm 1979. Malaixia và Philíppin đã chiếm một số đảo ở các vùng hai nước tuyên bố chủ quyền, động thái này gây phản ứng từ các nước láng giềng. Việc Tomas Cloma đòi chủ quyền đảo Kalayaan cho Philíppin năm 1956 đã khiến Chính quyền Nam Việt Nam đưa quân ra chiếm giữ một số đảo ở khu vực này. Đài Loan phản ứng tuyên bố của Tomas Cloma và cho quân chiếm lại Itu Aba hay Đảo Thái Bình mặc dù trước đó họ đã rút khỏi đảo này năm 1950. 


Sau khi thống nhất năm 1975, Việt
Nam bắt đầu chiếm giữ một số đảo ở Trường Sa và điều này đã làm tăng sự thù địch của Trung Quốc. Philíppin cũng chiếm giữ các đảo trong vùng biển họ khẳng định có chủ quyền bắt đầu từ tháng 3/1978 và Malaixia tuyên bố chủ quyền đối với vùng nước này nhận là của họ sau đó một năm. 


Trung Quốc đã sử dụng hải quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa từ Chính quyền miền Nam Việt Nam năm 1974 , song lực lượng hải quân xa bờ của họ khi đó còn yếu nên không thể tiến xa hơn xuống phía Nam, hơn nữa sự có mặt của hải quân Mỹ tại Philíppin và sau đó hải quân Liên Xô đóng ở cảng Cam Ranh có vai trò như lực lượng răn đe đối với Trung Quốc. Chỉ tới khi nhà lãnh đạo Liên Xô Gorbachev bắt đầu cải thiện quan hệ với Bắc Kinh, thì Trung Quốc mới vững tâm hành động chống Việt Nam và chiếm một số đảo tại Trường Sa. Tháng 3/1988, hải quân Trung Quốc xung đột với hải quân Việt
Nam tại khu vực gần đá ngầm Fiery Cross Reef, bãi Chữ thập. 3 tàu của Việt Nam bị bắn chìm cùng với 72 lính thuỷ. Khi đó, Trung Quốc chiếm 7 đảo, sau đó chiếm thêm 2 đảo nữa. 


UNCLOS-YẾU TỐ QUAN TRỌNG DẪN TỚI TRANH CHẤP TẠI BIỂN ĐÔNG 


Một yếu tố quan trọng dẫn tới sự tranh giành Trường Sa là do luật biển; việc thương lượng về văn kiện pháp lý này được bắt đầu từ năm 1973 và kết quả là sự ra đời của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển – III (UNCLOS-III) tháng 12/1983. UNCLOS III cho phép các nước ven biển có vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) kéo dài 200 hải lý (320 Km) tính từ đường cơ sở hoặc còn gọi là vùng thềm lục địa và quy định việc sở hữu các đảo có thể kéo dài thêm EEZ và thềm lục địa. Theo UNCLOS –III, mối liên hệ về lịch sử hay việc đầu tiên phát hiện ra không có nhiều sức nặng pháp lý nên yêu cầu chủ quyền của Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực vượt quá ngoài EEZ của hai nước này ít sức thuyết phục. Điều đó đã kích thích hai nước này chiếm đóng các đảo để mở rộng EEZ và thềm lục địa. Các nước có yêu cầu chủ quyền khác như Malaixia và Philíppin cũng tiến hành các biện pháp phòng ngừa để bảo đảm các đảo ở khu vực họ yêu cầu chủ quyền không bị nước khác chiếm đóng, đồng thời thực hiện các động thái thể hiện việc “chiếm giữ tích cực”. Thực tế là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển nhấn mạnh tầm quan trọng của việc “chiếm giữ tích cực” các đảo hơn là mối liên hệ lịch sử hay quyền đầu tiên phát hiện ra. Điều này đã được thể hiện trong việc phân xử chủ quyền đối với đảo
Palma hồi tháng 4/1928. Gần đây hơn, Tòa án công lý quốc tế năm 2002 đã ủng hộ chủ quyền của Malaixia đối với các đảo Pulau Light và Pulau Sipadan tranh chấp với Inđônêxia cũng với lý do tương tự. Tòa án đã xem xét các chứng cứ về “các hoạt động chứng tỏ quyền quản lý thực sự và liên tục đối với các đảo này v.v... cũng như chứng tỏ ý muốn hành động với tư cách có chủ quyền”. Tòa đã phát hiện ra rằng Malaixia đã có các hoạt động thường xuyên do nhà nước bảo trợ “thể hiện ý định thực hiện chức năng nhà nước” đối với các đảo này và điều đó đã không bị phía Inđônêxia phản đối. 

 

Trở ngại chính khác đối với các nước có yêu cầu chủ quyền là UNCLOS-III phân biệt rõ ràng các đảo với các đảo đá hay đảo san hô, theo đó không thể dựa vào để kéo dài vùng EEZ hoặc thềm lục địa. Điều 121 (3) về đảo đá hay đảo san hô viết “các đảo đá hay đảo san hô không có các điều kiện duy trì sinh hoạt cho con người hoặc phát triển kinh tế cho họ sẽ không có khu vực đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa”. Rất nhiều các đảo “có người chiếm giữ” ở Biển Đông bị xếp vào diện này. Tuy nhiên, các nước đã hành động trước để ngăn chặn những nước khác chiếm các đảo loại này trong các khu vực họ nhận chủ quyền mà vẫn chưa có vị thế hợp pháp rõ ràng vốn đã bị ngừng sau đó một thời gian. Khi đó, họ có thể tăng cường các diễn giải về khả năng phát triển kinh tế để ủng hộ cho yêu cầu chủ quyền của mình. Nếu vùng nước xung quanh các bãi đá ngầm và đảo san hô được sử dụng thường xuyên cho các mục đích du lịch và đánh cá, nếu hoạt động bơi lặn giữa các vòng đảo san hô được tiến hành trên cơ sở có tổ chức, thì điều đó sẽ có thể đáp ứng những đòi hỏi xác nhận chủ quyền. Trong trường hợp đảo Ligital/Sipadan nêu ở trên, Tòa án quốc tế nêu ra tầm quan trọng của việc thu lượm trứng rùa khi ủng hộ yêu cầu chủ quyền của Malaixia về “chiếm giữ có hiệu quả” và các luận cứ tương tự có thể được sử dụng trong tương lai để ủng hộ những yêu cầu về khả năng phát triển kinh tế. 


KHẢ NĂNG XUNG ĐỘT TIỀM TÀNG Ở KHU VỰC 


Việc tranh chấp các đảo, sự cứng rắn trong các yêu cầu chủ quyền trái ngược nhau và việc không có bất kỳ tiến triển nào hướng tới một giải pháp cho thấy xung đột luôn có khả năng xảy ra. Cho đến nay, Trung Quốc là bên yêu cầu chủ quyền duy nhất đã sử dụng vũ lực, điều đó phản ảnh vị thế là bên đến sau cùng của họ. Trong khi các nước có yêu cầu chủ quyền khác đã chiếm giữ các đảo trong các vùng họ nhận chủ quyền, Trung Quốc bị loại khỏi việc xác nhận chủ quyền theo cách tương tự do hải quân của họ thiếu năng lực và sự có mặt của hải quân các siêu cường. Vì là bên đến sau cùng nên Trung Quốc có động cơ sử dụng vũ lực để đòi chủ quyền đối với khu vực này và để can dự vào các cuộc thương lượng tương lai liên quan đến Biển Đông. Trong các năm 1974 và 1988, Trung Quốc đã sử dụng vũ lực chống Việt Nam, nước có yêu cầu chủ quyền chiếm số lượng đảo lớn nhất ở khu vực Trường Sa; điều đó báo động các nước ASEAN và cộng đồng quốc tế và làm tăng sự nghi ngờ về động cơ lâu dài của Bắc Kinh. Tháng 5/1992, Bắc Kinh tuyên bố đàm phán với công ty Crestone của Mỹ về thăm dò dầu mỏ làm tăng thêm nỗi lo ngại. Tuy vậy, Trung Quốc cùng với ASEAN đã ký một tuyên bố về Biển Đông năm 1992. Trong tuyên bố này, Trung Quốc và ASEAN cam kết giải quyết vấn đề chủ quyền ở Biển Đông “bằng các biện pháp hoà bình, không sử dụng vũ lực”. Nhưng sau đó, Trung Quốc đã vi phạm cam kết này và chiếm đảo Vành khăn (Mischief Reef) nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philíppin. Sau đó, Trung Quốc xây dựng trên đảo này rồi mở rộng và củng cố công trình xây dựng trong năm 1999, để dành cho “các mục đích đánh cá”. 


Rất nhiều cụm từ được sử dụng để đặt cho động thái của Trung Quốc, trong đó có “sáp nhập từ từ”, “sự xâm lấn lặng lẽ”, thể hiện nỗ lực giảm thiểu khả năng xảy ra xung đột trực tiếp. Philíppin bị tấn công bởi là nước trong ASEAN ít có khả năng nhất trong việc tuần tra khu vực EEZ và đòi hỏi chủ quyền của nước này. Tuy nhiên, sự mạo hiểm đối với Trung Quốc tăng lên khi Philíppin thương lượng với Hải quân Mỹ về Hiệp định Lực lượng Thăm viếng (VFA) năm 1998, và văn kiện này đã được Thượng viện Philíppin phê chuẩn năm 1999. Mỹ có lợi ích trong việc giành được quyền thăm Philíppin cho hải quân nước này vì điều đó tạo điều kiện cho họ phản ứng nhanh chóng hơn nhiều trong trường hợp xảy ra một cuộc khủng hoảng nữa ở Đài Loan. Vì vấn đề Đài Loan, Hải quân Mỹ bắt đầu can dự sâu ở Biển Đông. Tình hình bế tắc càng thể hiện rõ khi các tuyên bố nhận chủ quyền trái ngược nhau không được giải quyết. Tháng 11/2002, ASEAN và Trung Quốc đã ký “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), được nội bộ khối ASEAN đánh giá là một diễn biến tích cực, và là dấu hiệu cho thấy ý định của Trung Quốc đã thay đổi theo hướng tích cực hơn. Tuy nhiên, DOC chỉ là một phương cách giữ nguyên trạng và có lợi cho Trung Quốc trong bối cảnh Bắc Kinh lo ngại Mỹ can thiệp. DOC là động thái phòng thủ của Trung Quốc hơn là tín hiệu về ý muốn của Bắc Kinh muốn giải quyết vấn đề, do vậy văn kiện này cũng thể hiện dấu hiệu về khả năng bế tắc sẽ kéo dài. 

Tình trạng bế tắc có thể kéo dài một thời gian trong nền chính trị thế giới mà không bùng nổ xung đột trong bối cảnh không có nhu cầu thúc ép phải giải quyết. Nếu như các hoạt động làm ăn có thể được tiến hành bất chấp các yêu cầu chủ quyền xung đột nhau thì tình thế nguyên trạng có thể chấp nhận được đối với tất cả các bên như một giải pháp thay thế cho xung đột. Tuy nhiên, sự nguyên trạng ở Biển Đông là không chắc chắn bởi lượng dự trữ dầu mỏ và khí đốt khổng lồ ở đây đòi hỏi phải có giải pháp cho các tuyên bố chủ quyền trái ngược nhau trước khi việc khai thác ở quy mô lớn được bắt đầu. Nhu cầu năng lượng toàn cầu sẽ tăng mạnh trong tương lai vì Trung Quốc và Ấn Độ, và các nước sản xuất khác tìm kiếm các nguồn năng lượng để bảo đảm sự phát triển các nền kinh tế của họ. Nhu cầu năng lượng của Trung Quốc tăng rất nhanh chóng và nhập khẩu sẽ chiếm tới 50% toàn bộ mức tiêu thụ năng lượng của nước này trong năm 2010. Trung Quốc đã cố gắng đa dạng hoá các nguồn cung năng lượng để giảm bớt nguy cơ nguồn cung bị ngưng trệ bằng cách tìm kiếm các hợp đồng dài hạn với Venêxuêla, Nigiêria, Xuđăng và dường như họ đang quan tâm nhiều hơn tới các nguồn tài nguyên ở Biển Đông. Trung Quốc ước tính trữ lượng dầu mỏ ở Biển Đông đã kích động Bộ Năng lượng Mỹ phản ứng với tuyên bố rằng “ít có bằng chứng ngoài tuyên bố của Trung Quốc ủng hộ ý kiến cho rằng khu vực này có trữ lượng dầu đáng kể”. Khí đốt tự nhiên có thể quan trọng hơn dầu mỏ ở Biển Đông vì báo cáo Điều tra địa chất của Mỹ cho rằng “60-70% dự trữ hyđrôcácbon ở khu vực này là khí đốt”. Đánh giá của Trung Quốc về dự trữ dầu khí ở đây cũng cao hơn đáng kể so với các nước khác. Tháng 4/2006, công ty Mỹ Husky Energy tiến hành thăm dò cùng với Tập đoàn quốc gia khai thác dầu mỏ ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC) tuyên bố nguồn dự trữ khí đốt được khẳng định ở khu vực gần Trường Sa lên tới gần 4-6 nghìn tỷ foot khối ( 113, 2-169,8 tỷ m³). 


Nhu cầu năng lượng thúc đẩy các nỗ lực khai thác tiềm năng năng lượng của Biển Đông trên thực tế có thể kích hoạt xung đột. Năm 1992, khi Trung Quốc mời Crestone thăm dò dầu khí ở khu vực này đã gây ra sự phản đối từ phía Việt
Nam . Căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc về hoạt động của Crestone kéo dài suốt những năm 1990. Việt Nam là một nước sản xuất dầu mỏ quan trọng ở khu vực, khai thác khoảng 350.000 thùng dầu/ngày trong năm 2007. Liên doanh dầu khí Việt-Xô được thành lập từ năm 1981 và hoạt động tới ngày nay khai thác 3 giếng dầu ở Biển Đông gồm mỏ Bạch Hổ, bắt đầu khai thác năm 1986, Thanh Long và Đại Hùng. Sản lượng khai thác tại mỏ Bạch Hổ, mỏ dầu chính của Việt Nam ở ngoài khơi đang giảm khiến Việt Nam phải tìm kiếm các mỏ khác thay thế. Việt Nam cũng đang khai thác ở các mỏ khác như Sư tử Đen, Sư tử Vàng và Sư tử Trắng. Do Việt Nam

ra sức khai thác các mỏ mới nên có khả năng xảy ra xung đột mới với Trung Quốc. Tháng 10/2004, một mỏ dầu mới được phát hiện ở ngoài khơi khu vực miền Bắc Việt Nam, phía Tây đảo Hải Nam với sự tham gia của các công ty như Petro Vietnam, Petronas Carigali (Malaixia), Petroleum (Xinhgapo) và Technology Inc. Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã phản đối. Malaixia và Brunây cũng đã tranh chấp việc phát triển một mỏ khí đốt ở khu vực hai nước cùng tuyên bố chủ quyền. Cùng các lô ở khu vực này được dành cho các công ty khác nhau, Malaixia dành quyền thăm dò cho công ty Murphy Oil trong khi Brunây dành quyền tương tự cho công ty Roal Dutch Shell (Hà Lan) và Total (Pháp). Việc tranh chấp đã ngăn cản các công ty tiếp tục các hoạt động của họ cho tới tận tháng 3/2009, khi hai nước thoả thuận giải quyết tranh chấp để cho phép các công ty tiếp tục hoạt động thăm dò. Mãi tới gần đây, tháng 3/2009, Quốc hội Philíppin mới thông qua Luật về đường cơ sở nhằm xác định đường cơ sở của đất nước quần đảo này. Theo Luật này, bãi đá ngầm Kalayaan và Scarborough (đảo Hoàng Nham) không nằm trong chủ quyền lãnh hải của Philíppin, song lại đặt các thực thể này trong một dạng gọi là “chế độ các đảo dưới sự quản lý của Cộng hoà Philíppin”. Tất nhiên Trung Quốc phản đối, và Đại sứ quán nước này tại Philíppin tuyên bố động thái đó là bất hợp pháp. Cần thiết phải có giải pháp cho những yêu cầu chủ quyền trái ngược nhau nhằm tránh mọi bất trắc để tập trung các nỗ lực vào khai thác các nguồn năng lượng ở khu vực này.


CÁC NỖ LỰC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP 


Trung Quốc bác bỏ các đề xuất về tiến hành các cuộc đàm phán đa phương và khăng khăng đòi tiến hành đàm phán trên cơ sở song phương. Năm 1992, Tổng thống Philíppin Fidel Ramos đề nghị tíến hành một hội nghị quốc tế về Trường Sa dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc, đề nghị được xem là một biện pháp lôgích. Đề nghị này tiếp đó được Raul Manglapus, Bộ trưởng Ngoại giao Philíppin nhắc lại tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN tháng 7/1992. Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã nhanh chóng lên tiếng phản đối và đề nghị này không được nêu lại một lần nào nữa từ đó đến nay. Tháng 3/1994, ông Ramos cũng kêu gọi phi quân sự hoá quần đảo Trường Sa và ngừng tất cả các hoạt động gây bất ổn định ở khu vực này. Ý định của ông Ramos là kích hoạt việc khởi động các cuộc đàm phán về vấn đề có thể đưa các bên ngồi lại với nhau để thảo luận những vấn đề chính ở giai đoạn sau đó. Trong mọi trường hợp, phi quân sự hoá khó có thể khởi động được vì nó sẽ tạo lợi thế cho Trung Quốc, bên đòi chủ quyền mạnh mẽ, song có số đảo chiếm giữ tương đối ít. 


Nguyên nhân chính cho việc thành lập Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) năm 1993 là do nhu cầu phải can dự với Trung Quốc về một loạt các vấn đề, trong đó có Biển Đông. Philíppin phát hiện ra rằng sau khi Trung Quốc chiếm đảo Vành Khăn thì vấn đề này không thể được nêu lên tại ARF bởi các quan chức cấp cao phản đối không đưa vấn đề này vào chương trình nghị sự. Cả ASEAN lẫn ARF đều không có khả năng giải quyết vấn đề này khiến người ta phải đặt câu hỏi về vai trò và mục tiêu của các tổ chức này. ASEAN không thống nhất về vấn đề này do Malaixia ủng hộ Trung Quốc về đàm phán song phương. Việc Thủ tướng Malaixia Mahathir về hùa với Trung Quốc trong vấn đề này phản ánh việc ông nhằm tới một chính sách đối ngoại rộng hơn và sự bất đồng của ông với Mỹ. Một cách từ từ, quan điểm thúc đẩy các cuộc đối thoại đa phương về vấn đề này đã được đưa ra. Nếu các bên yêu cầu chủ quyền đồng ý về các vấn đề song phương, điều đó có thể giảm bớt tranh chấp xuống mức có thể quản lý được và để lại phần khó khăn hơn đòi hỏi phải có các cuộc đàm phán đa phương ở giai đoạn muộn hơn. Ý tưởng này có thể hấp dẫn, do các vùng tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và Việt Nam chồng lấn với các vùng yêu cầu chủ quyền của đại đa số các nước khác. Trung Quốc ít nhất đã chấp nhận DOC hồi năm 2002, một động thái mà các nước ASEAN cho là còn sớm để coi đó là bằng chứng về việc Bắc Kinh chấp nhận đàm phán đa phương và hy vọng vào tương lai. Tuy vậy, DOC đáp ứng yêu cầu của Bắc Kinh trong việc ngăn chặn các nước ASEAN lôi kéo Mỹ can dự chặt chẽ hơn vào tranh chấp hoặc các hoạt động chống lại lợi ích của Trung Quốc. Thoả thuận này có tính chất chuẩn bị cho Bộ quy tắc ứng xử (COC) thực sự cần phải được đàm phán sau này, nhưng đã không có các động thái tiếp theo và tiến trình bị đình trệ. 


Giải pháp hợp pháp cho sự tranh chấp ở Biển Đông đòi hỏi phải chấp nhận các nguyên tắc của UNCLOS nhằm hoà giải các tuyên bố chủ quyền trái ngược nhau. Một trong những điều không thể lường trước của cuộc tranh chấp là việc Trung Quốc không xác định rõ yêu cầu chủ quyền của họ, nước này đã công bố các bản đồ về vùng tuyên bố chủ quyền bao gồm 80 % diện tích Biển Đông, song điều này là mập mờ và không có giá trị pháp lý. Trong mọi trường hợp, theo các điều từ 74 đến 83 của UNCLOS-III, trong trường hợp có sự chồng lấn các khu vực đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, việc phân định ranh giới sẽ có hiệu lực theo hiệp định dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế hoặc Tòa án tư pháp quốc tế nhằm “đạt được một giải pháp hợp tình hợp lý”. Cả hai điều khoản đều nêu rõ rằng trong trường hợp không đạt được thoả thuận nào trong “giai đoạn hợp lý”, thì các bên sẽ dựa vào trình tự giải quyết tranh chấp trong phần XV của UNCLOS. Phần này có viết “các bên có trách nhiệm giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình” (điều 279). Việc dùng tới trung gian có thẩm quyền là tự nguyện và UNCLOS-III nêu rõ: “các nước được tự do lựa chọn” một trong các biện pháp để giải quyết tranh chấp. UNCLOS-III không được sử dụng trong tình huống khi các bên yêu cầu chủ quyền không có ý định nhờ cậy tới trung gian bắt buộc. 


Sử dụng đề xuất của Trung Quốc về cùng phát triển, coi đó là cơ sở cho việc giải quyết các tranh chấp chủ quyền là một cách thúc đẩy giải pháp hợp pháp. Ý tưởng này được Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng đưa ra lần đầu tiên tại Xinhgapo ngày 13/8/1990, khi ông kêu gọi các nước yêu cầu chủ quyền gạt vấn đề chủ quyền sang một bên để tạo điều kiện thực hiện tiến trình cùng khai thác. Đề xuất này được nhắc lại khi Bộ trưởng Quốc phòng Malaixia khi đó, ông Najib Tun Nazak thăm Trung Quốc tháng 6/1992 và khi ông Lý Bằng thăm Hà Nội sau đó vào tháng 12/1992. Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham phát biểu nói tại Hội nghị ngoại trưởng ASEAN tháng 7/1992 rằng khi các điều kiện chín muồi có thể bắt đầu các cuộc thương lượng về Biển Đông, và về nguyên tắc, Trung Quốc muốn gác lại tuyên bố chủ quyền của nước này. Ý tưởng về cùng phát triển thường được phía Trung Quốc nêu ra trong những trường hợp khác, song không được làm cho rõ thêm. Việc khích lệ ý tưởng cùng phát triển được nêu trong một đề xuất giải quyết bằng pháp lý đối với các yêu cầu chủ quyền trái ngược nhau có thể thúc đẩy Trung Quốc làm sáng tỏ lập trường của họ. Điều đó có thể mở đường cho việc giải quyết vấn đề đáp ứng lợi ích của họ. Ít nhất đã có 4 cơ hội cùng phát triển có thể được tạo ra ở Biển Đông. Cơ hội thứ nhất là hiệp định Nhật Bản-Hàn Quốc tháng 1/1974 về cùng phát triển khu vực chồng lấn ở vùng eo biển
Tsushima . Trung Quốc đã phản đối hiệp định này khiến việc thực hiện trở nên khó khăn. Trường hợp thứ hai là hiệp định Malaixia-Thái Lan tháng 2/1979 về đường lãnh hải giữa hai nước, trong đó có việc thành lập một cơ quan phát triển chung để quản lý một khu vực hai nước cùng nhận có chủ quyền. Trường hợp thứ ba là Hiệp ước khoảng trống Timo ký giữa Ôxtrâylia và Inđônêxia tháng 12/1989. Hiệp ước này quy định thành lập một khu vực cùng phát triển ở vùng biển chồng lấn. Sau khi Timo Leste giành độc lập từ Inđônêxia, các cuộc thương lượng về một hiệp ước mới với Ôxtrâylia đã dẫn tới sự ra đời của Hiệp ước biển Timo hồi tháng 5/2002. Trường hợp cuối cùng là hiệp định Malaixia-ViệtNam về phát triển một khu vực thềm lục địa hai nước cùng tuyên bố chủ quyền, ký tháng 6/1992. 


Tuy nhiên, còn tồn tại nhiều khó khăn trong việc áp dụng nguyên tắc trên vào việc giải quyết tranh chấp ở Biển Đông. Các ví dụ trên là những trường hợp đạt được hiệp định song phương, nhưng việc chuyển ý tưởng này vào trường hợp đa phương phức tạp là đầy khó khăn. Hai bên yêu cầu chủ quyền chấp nhận một công thức chia thu nhập từ khu vực cùng phát triển là việc có thể, song việc đạt được thoả thuận sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều nếu có các bên khác can dự, như trường hợp Biển Đông, nơi có 7 bên liên quan tranh chấp. Điều đó gây khó khăn hơn cho các bên yêu cầu chủ quyền trong việc chia sẻ nguồn tài nguyên mà họ coi là sở hữu hợp pháp của mình với các bên khác. Cả Việt
Nam và Malaixia đều không hào hứng với ý tưởng này, vốn được coi là có lợi cho Trung Quốc hơn cả. Các nhà chỉ trích coi đề xuất của Trung Quốc giống như một cách dùng đòn bẩy đẩy nước này vào khu vực gây thiệt hại cho các nước ASEAN có yêu cầu chủ quyền. Có một cách đáp ứng nỗi lo ngại chung là đưa ra đề xuất phát triển chung kèm theo công nhận chủ quyền. Nỗ lực này được thể hiện trong đề xuất của ông Ali Alatas năm 1994. Đề xuất này cho phép mỗi nước nhận chủ quyền đối với Khu vực đặc quyền kinh tế có chiều dài 320 Km tính từ đường cơ sở, đường lãnh hải của các khu vực này cắt nhau tạo ra khu vực giao nhau bên trong sẽ là đối tượng phát triển chung và thu nhập từ khu vực này sẽ được chia theo công thức thoả thuận. Đề xuất này được Đại sứ Hasjim Djalal nêu ra khi ông thăm ASEAN trong thời gian tháng 5 và 6/1994, nhưng không đạt được nhiều kết quả. Khó khăn chủ yếu đối với đề xuất này là nó bị Việt Nam và Trung Quốc phản đối vì nó giảm chiều rộng vùng đặc quyền kinh tế của hai nước này xuống 320 Km như UNCLOS-III quy định. Đặc biệt, Trung Quốc sẽ bị tước mất đòi hỏi chủ quyền đối với toàn bộ khu vực này mà không được đền bù nhiều. Hơn nữa, đề xuất này không xác định cách giải quyết các khu vực chồng lấn chủ quyền của các nước ASEAN như thế nào. Trong mọi trường hợp, một khi các nước ven biển tuyên bố sở hữu các nguồn tài nguyên trong khu vực đặc quyền kinh tế của họ sẽ còn rất ít để chia sẻ với các nước khác bởi các nguồn năng lượng lớn không được tìm thấy ở đây. Đó là những lý do giải thích tại sao đề xuất này ít tiến triển. 


Cách tiếp cận luật pháp-chính trị là ý tưởng về một chế độ biển có thể sẽ chi phối khu vực Biển Đông. Cho đến nay, đề xuất đặc biệt về việc thành lập Cơ quan phát triển các nguồn năng lượng tại khu vực Trường Sa (SRDA) có thể huy động các nguồn tài chính của các nước có yêu cầu chủ quyền đối với khu vực này vào một quỹ chung và có thể thúc đẩy các nỗ lực chung để phát triển khai thác các nguồn tài nguyên của khu vực. Một chế độ biển dựa trên sự hiểu biết các nhu cầu chung là động cơ để giải quyết tranh chấp về đường lãnh hải giữa các nước yêu cầu chủ quyền. Điều 123 trong UNCLOS-III nêu rõ rằng các nước “tiếp giáp với biển kín hoặc bán kín phải hợp tác với nhau trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của Công ước này”. Điều khoản này bổ sung thêm rằng họ cần phải hành động như vậy “trực tiếp hoặc thông qua một tổ chức khu vực thích hợp”. Mark Valenccia đã đi tiên phong trong việc thúc đẩy quan điểm này lập luận rằng hợp tác biển ở khu vực có thể tiến triển từ chính sách tham vấn sang chính sách hài hoà, hợp tác và điều chỉnh chính sách quốc gia. Trong khi điều 123 quy định về vấn đề hợp tác, thì điều 56 dành cho các nước ven biển các quyền đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có ít lý do để hợp tác với các bên khác trong việc xây dựng quy chế biển. Không nghi ngờ gì rằng một quy chế biển thích hợp đối với Biển Đông sẽ là điều đáng ao ước, song nó đòi hỏi phải có các cuộc đàm phán đa phương giữa các nước yêu cầu chủ quyền, điều mà Trung Quốc vẫn luôn phản đối. Việc xây dựng quy chế biển đòi hỏi phải có các quyết định chính trị, vấn đề các nước yêu cầu chủ quyền ở khu vực chưa sẵn sàng thực hiện. 



Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Về khả năng xung đột Trung Quốc – Philippin tại Biển Đông

Về khả năng xung đột Trung Quốc – Philippin tại Biển Đông

Bộ phận dự báo, phân tích và tư vấn rủi ro (EIU) thuộc Tạp chí Nhà Kinh tế (Anh) ngày 16/5 đưa ra nhận định của cơ quan nghiên cứu uy tín này về khả năng bùng phát xung đột tại Biển Đông sau những đụng độ mới đây giữa Trung Quốc và Philíppin, đồng thời đánh giá về khả năng hợp tác cùng khai thác giữa Philíppin và Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nghiên cứu của Bộ Quốc Phòng Pháp về Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Nghiên cứu của Bộ Quốc Phòng Pháp về Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa có diện tích bề mặt chưa quá 15 km² là mục tiêu theo đuổi của những yêu sách và xung đột gia tăng kể từ những năm 1970. Những lợi ích từ yêu sách hai quần đảo này đối với các quốc gia là gì?

Đọc tiếp...

Leszek Buszynski, Biển Đông: Dầu hỏa, Yêu sách biển và cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung

Leszek Buszynski, Biển Đông: Dầu hỏa, Yêu sách biển và cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung

Tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông đang kích thích sự can dự của Mỹ. Những yêu sách chủ quyền, nhu cầu tài nguyên đang khiến cho căng thẳng tại Biển Đông gia tăng và cánh cửa giải quyết triệt để vấn đề trở nên hẹp hơn. Đọc tiếp...

Cửu Long khuấy biển: Trung Quốc làm căng thẳng Biển Đông

Cửu Long khuấy biển: Trung Quốc làm căng thẳng Biển Đông

Việc thiếu sự chỉ đạo nhất quán và phối hợp chặt chẽ về vấn đề Biển Đông trong nội bộ Trung Quốc, thêm vào đó là sự mơ hồ trong chính sách Biển Đông của chính quyền trung ương, các cơ quan, lực lượng liên quan đã lợi dụng điều này nhằm gia tăng lợi ích cục bộ của mình. Tất cả các nhân tố trên là nguyên nhân dẫn đến tình hình căng thẳng tại Biển Đông hiện nay

Đọc tiếp...

Liệu Mỹ có bị cuốn vào một cuộc xung đột vũ trang ở Biển Đông?

Liệu Mỹ có bị cuốn vào một cuộc xung đột vũ trang ở Biển Đông?

Trong bài viết trên trang Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (Mỹ), Bonnie Glaser (CSIS) đánh giá rằng khả năng xảy ra xung đột vũ trang ở Biển Đông là hoàn toàn có thể. Tác giả đề cập đến 3 trường hợp Mỹ có thể bị cuốn vào cuộc xung đột đó đồng thời khuyến nghị một số biện pháp ngoại giao phòng ngừa.

Đọc tiếp...

M. Taylor Fravel, Chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

M. Taylor Fravel, Chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Trì hoãn là chiến lược mà Trung Quốc đã sử dụng đối với Biển Đông từ giữa những năm 90 đến nay. Bài viết sẽ đi sâu phân tích vì sao Trung Quốc lại sử dụng chiến lược này và một số kết quả mà Trung Quốc đạt được cũng như tác động như thế nào đối với khu vực

Đọc tiếp...

Trung Quốc có thực sự điều chỉnh chính sách ở Biển Đông?

Trung Quốc có thực sự điều chỉnh chính sách ở Biển Đông?

Gần đây, Trung Quốc dường như đang theo đuổi cách tiếp cận mới ôn hòa hơn trong tranh chấp Biển Đông. Mục tiêu chủ yếu của chính sách thân thiện hơn là nhằm khôi phục hình ảnh của nước này ở Đông Á và ngăn chặn Mỹ thúc đẩy vai trò trong khu vực. Chưa biết cách tiếp cận mới của Bắc Kinh có thể kéo dài hay không, nhưng ít nhất nó cũng thể hiện Trung Quốc có thể điều chỉnh chính sách đối ngoại của họ. 

Đọc tiếp...

Biển Đông: Vùng nước dữ cho việc xây dựng liên minh

Biển Đông: Vùng nước dữ cho việc xây dựng liên minh

Mỹ đang phải đối mặt với những trở ngại tại Biển Đông. Washington cần tiến hành các hoạt động hợp tác biển song phương và với các nhóm nước đặc biệt nhằm xây dựng những mạng lưới liên minh khu vực đủ mạnh để giải quyết các vấn đề an ninh và đảm bảo lợi ích của Mỹ.

Đọc tiếp...

Will Rogers, Vai trò của tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông

Will Rogers, Vai trò của tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông

Nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên gia tăng trong bối cảnh nguồn cung suy giảm đang đặt ra những thách thức đối với các nước xung quanh Biển Đông. Điều này sẽ tác động thế nào đến cách ứng xử của họ đối với bên ngoài: gia tăng cạnh tranh hay thúc đẩy hợp tác?. Đọc tiếp...

Peter A. Dutton, Những rạn nứt trong nền tàng toàn cầu: Luật pháp quốc tế và sự bất ổn tại Biển Đông

Peter A. Dutton, Những rạn nứt trong nền tàng toàn cầu: Luật pháp quốc tế và sự bất ổn tại Biển Đông

Trung Quốc đang đòi hỏi lợi ích của mình theo những cách thức có thể đe dọa đến những nguyên tắc nền tảng đang điều phối quan hệ quốc tế. Xu hướng này được minh chứng rõ nét nhất tại Biển Đông. Mỹ cần can dự để Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế hiện hành.

Đọc tiếp...

Năng lực "Chống hải quân" gần bờ của Trung Quốc mới là thách thức đối với Mỹ và khu vực

Năng lực

Năng lực hải quân Trung Quốc đang ngày càng phát triển, tuy nhiên tương quan giữa năng lực tác chiến gần bờ và xa bờ của Trung Quốc lại tồn tại khoảng cách khác biệt rất lớn, và sẽ còn một khoảng cách rất dài để theo kịp Mỹ. Giải quyết và hiểu thực sự bản chất của vấn đề này sẽ góp phần tránh xung đột đối đầu quân sự Mỹ - Trung cũng như sự xuất hiện của chủ nghĩa bá quyền.

Đọc tiếp...

Ian Storey, Ngoại giao song phương và đa phương của Trung Quốc ở Biển Đông

Ian Storey, Ngoại giao song phương và đa phương của Trung Quốc ở Biển Đông

Trung Quốc tăng cường nỗ lực ngoại giao vừa trấn an các nước láng giềng, vừa củng cố yêu sách tại  Biển Đông. Mặc dù phương thức song phương là chủ đạo, nhưng tại sao nước này lại đàm phán hai thỏa thuận với ASEAN trong hai thập kỷ qua? Mục tiêu là duy trì nguyên trạng? Đọc tiếp...

M. Taylor Fravel, An ninh ở Biển Đông và cuộc tranh giành các quyền trên biển

M. Taylor Fravel, An ninh ở Biển Đông và cuộc tranh giành các quyền trên biển

Tranh chấp Biển Đông hiện nay có thể dẫn đến sự bất ổn khu vực, thậm chí là xung đột vũ trang, tuy nhiên những cơ hội hợp tác để giảm sự gia tăng căng thẳng vẫn tồn tại. Và về chiến lược lâu dài, Mỹ cần phải có các nỗ lực can dự cân bằng để duy trì ổn định ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Patrick M. Cronin và Robert D. Kaplan, Chiến lược của Mỹ đối với Biển Đông

Patrick M. Cronin và Robert D. Kaplan, Chiến lược của Mỹ đối với  Biển Đông

Lợi ích của Mỹ đang bị đe dọa trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Những luật chơi mà Mỹ đã thiết lập đang có nguy cơ “bị xem xét lại”, điển hình lại tại Biển Đông. Mỹ cần làm gì? Các khuyến nghị đầy đủ của think-tank hàng đầu của Mỹ CNAS.

Đọc tiếp...

Mùa Đông của Biển Đông: Tình hình, cục diện và kế sách cho Trung Quốc

Mùa Đông của Biển Đông: Tình hình, cục diện và kế sách cho Trung Quốc

Loạt bài của các chuyên gia về Biển Đông đăng trên tạp chí “Tri thức thế giới” của Bộ Ngoại giao Trung Quốc: một nửa giang sơn của Trung Quốc là phần bao bọc xung quanh phía Nam nhưng đang ở trong trạng thái của “mùa Đông lạnh giá”? “Trung Quốc cần phải có kế sách đối phó như thế nào?”

Đọc tiếp...

GS. Carlyle A.Thayer, BIỂN ĐÔNG: CÓ CHỈ LÀ CỦA TRUNG QUỐC?

GS. Carlyle A.Thayer, BIỂN ĐÔNG: CÓ CHỈ LÀ CỦA TRUNG QUỐC?

Trung Quốc đã phát tín hiệu phủ nhận UNCLOS bằng việc khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với Biển Đông, quan điểm của Bắc Kinh đã gây nên xung đột với các quốc gia khác. Để đạt giải pháp công bằng cho tất cả các bên, các nước ASEAN cần liên kết để tìm ra một tiếng nói chung trong cách tiếp cận để giải quyết vấn đề Biển Đông đối với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Thất bại tại Biển Đông nhưng Trung Quốc vẫn chìm đắm trong giấc mộng

Thất bại tại Biển Đông nhưng Trung Quốc vẫn chìm đắm trong giấc mộng

Về khía cạnh chiến lược, chính sách ngoại giao, quan hệ quốc tế và truyền thông trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc đã hoàn toàn bại trận. Dường như không một quốc gia nào ủng hộ lập trường cũng như lối hành xử của nước này. Bừi viết của Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Á, Đại học Quốc gia Singapore, Trịnh Vĩnh Niên trên Liên hợp Buổi sáng phân tích về nguyên nhân thất bại cũng như đối sách cho Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chính sách Biển Đông của Mỹ trong quan hệ với Trung Quốc

Chính sách Biển Đông của Mỹ trong quan hệ với Trung Quốc

 Báo cáo của Trung tâm An ninh Mới của Mỹ (CNAS) cho rằng các lợi ích của Mỹ đang ngày càng bị đe dọa trước sự lớn mạnh của Trung Quốc, nhất là trước việc nước này sẵn sàng “xem xét lại” các luật chơi đã được thiết lập. Mỹ cần không ngừng quan tâm đến Biển Đông và tăng cường hợp tác. Hợp tác chỉ có thể đạt hiệu quả dựa trên sức mạnh răn đe quân sự của Mỹ.

Đọc tiếp...

Tranh chấp Biển Đông trong quan hệ ASEAN và Trung Quốc: Đa phương và Song phương

Tranh chấp Biển Đông trong quan hệ ASEAN và Trung Quốc: Đa phương và Song phương

Từ việc phân tích tổng hợp các nhân tố dẫn đến căng thẳng và kéo dài trong tranh chấp Biển Đông, TS. Aileen S.P Baviera , Đại học Philippines đề cập đến các giải pháp: song phương, đa phương, hợp tác về an ninh hàng hải nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp Biển Đông, trong đó tác giả nhấn mạnh đến vai trò tiếp cận đa phương.

Đọc tiếp...

Liệu có thể giải quyết tranh chấp Biển Đông? Những chọn lựa của ASEAN trước một Trung Quốc quyết đoán

Liệu có thể giải quyết tranh chấp Biển Đông? Những chọn lựa của ASEAN trước một Trung Quốc quyết đoán

Bài viết của GS. Leszek Buszynski, Đại học Quốc gia Úc, phân tích nhân tố địa chính trị chiến lược trong tranh chấp Biển Đông. Trước một Trung Quốc ngày một quyết đoán, nếu ASEAN không đoàn kết và đi đến thống nhất lập trường trong tranh chấp thì giải pháp cuối cùng cho Biển Đông rất xa vời.

Đọc tiếp...

Báo cáo đặc biệt của Mỹ về tranh chấp tại Biển Đông và Biển Hoa Đông

Báo cáo đặc biệt của Mỹ về tranh chấp tại Biển Đông và Biển Hoa Đông

Bản báo cáo của của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á (NBR) của Mỹ phân tích, đánh giá những rủi ro ở vùng Biển Đông, biển Hoa Đông và Vịnh Thái Lan; các xu hướng gần đây tại các vùng biển tranh chấp - bao gồm cả tích cực và tiêu cực; các rào cản và cơ hội để thúc đẩy hợp tác. Cuối cùng, báo cáo đề xuất một loạt các kiến nghị chính sách cho các bên liên quan. Bản báo cáo được thực hiện bởi các chuyên gia quốc tế hàng đầu trong lĩnh vực này.

Đọc tiếp...

Trung Quốc: Tọa đàm hẹp về tình hình Biển Đông và lợi ích, chiến lược của Trung Quốc

Trung Quốc: Tọa đàm hẹp về tình hình Biển Đông và lợi ích, chiến lược của Trung Quốc

Tọa đàm tại Bắc Kinh giữa các chuyên gia hàng đầu của Trung Quốc, tập trung phân tích tầm quan trọng của biển đối với sự phát triển của Trung Quốc, những diễn biến gấn đây về tình hình Nam Hải (Biển Đông), đặc biệt là nhân tố Mỹ và ảnh hưởng đến cục diện xung quanh Trung Quốc. Các học giả cũng đưa ra các kiến nghị chính sách cho Chính phủ Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Đọc tiếp...

Trung Quốc có thể bảo vệ được "lợi ích cốt lõi" tại Biển Đông hay không?

Trung Quốc có thể bảo vệ được

Đặt giả thuyết rằng Trung Quốc thực sự coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”, bài viết của Toshi Yoshihara James R. Holmes, Đại học Hải chiến Mỹ, phân tích khả năng thành công của Trung Quốc trong việc bảo vệ “lợi ích cốt lõi” của mình tại Biển Đông. Khía cạnh mà tác giả tập trung phân tích chủ yếu nhằm vào năng lực quốc phòng của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

Đọc tiếp...

ASEAN và tranh chấp Biển Đông

ASEAN và tranh chấp Biển Đông

Bài viết của GS. Baldas Ghoshal, Thành viên danh dự của Viện Nghiên cứu Hòa bình và Xung đột (Ấn Độ), nhìn vào cách tiếp cận của ASEAN đối với tranh chấp Biển Đông, kiểm định tính hiệu quả của ASEAN trong việc đối phó với các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc, bên tranh chấp chính, và đánh giá triển vọng xoa dịu căng thẳng trong khu vực bằng những khuôn khổ pháp lý hiện hành. Đọc tiếp...

Tuyên bố Hà Nội của Clinton về Biển Đông: Khởi nguồn chiến lược kiềm chế Trung Quốc của Mỹ?

Tuyên bố Hà Nội của Clinton về Biển Đông:  Khởi nguồn chiến lược kiềm chế Trung Quốc của Mỹ?

Bài viết của TS. Renato Cruz De Castro (Philippines) nghiên cứu ngụ ý chính sách dài hạn của Mỹ trong Tuyên bố Hà Nội ngày 24/7/2010 của Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton về tranh chấp Biển Đông, đó là chính sách kiềm chế (constrainment ) đối với một Trung Quốc đang ngày càng quyết đoán trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ. Bài viết cũng đưa ra những thách thức về khả năng thành công của với chính sách này.

Đọc tiếp...

Đánh giá hiệu quả các khuôn khổ và cơ chế về an ninh biển trên Biển Đông hiện nay

Đánh giá hiệu quả các khuôn khổ và cơ chế về an ninh biển trên Biển Đông hiện nay

Trong bối cảnh tình hình Biển Đông căng thẳng, bài nghiên cứu của GS. Peter Dutton, Viện nghiên cứu Biển Trung Quốc, Học viện Hải quân Mỹ, đánh giá vai trò của các khuôn khổ và cơ chế an ninh biển hiện tại như Công ước luật biển 1982 hay Tuyên bố ứng xử 2002 trong việc duy trì hoà bình và thúc đẩy phát triển ở khu vực. Bài viết cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm xây dựng lòng tin và đề ra tiến trình hướng tới sự ổn định lâu dài.

Đọc tiếp...

Vai trò của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông

Vai trò của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông

Bài viết của tác giả Trang Ngọc Hoa, đăng trên trang trang mạng “Viện Nghiên cứu các Vấn đề Quốc tế Trung Quốc – China Institute of International studies” đã nêu ra một số đánh giá và phân tích của phía Trung Quốc về lợi ích, vai trò và chính sách của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông. Đọc tiếp...

Địa chính trị, Hải quân và Chiến lược ở Biển Đông

Địa chính trị, Hải quân và Chiến lược ở Biển Đông

Bài nghiên cứu của hai học giả Trung tâm Tài nguyên và An ninh Đại dương Quốc gia Úc, Đại học  New South Wales, Úc phân tích ba lĩnh vực trong vấn đề Biển Đông: địa chính trị, phát triển hải quân và chiến lược.  Trong đó nghiên cứu cụ thể  về việc Trung Quốc phản đối các hoạt động quân sự ở vùng đặc quyền kinh tế nhằm thể hiện quyết tâm tăng cường vị thế chiến lược tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Những sự việc căng thẳng trên Biển Đông gần đây: Đã đến lúc cần Bộ quy tắc ứng xử?

Những sự việc căng thẳng trên Biển Đông gần đây: Đã đến lúc cần Bộ quy tắc ứng xử?

Bàn về những sự việc căng thẳng trên Biển Đông thời gian gần đây, học giả Aileen S.P.Baviera vừa có bài viết đăng trên RSIS Commentaries No. 91/2011 ngày 14/6, nhan đề China and the South China Sea: Time for Code of Conduct?; hoặc trên The Manila Times.Tác giả đã nêu diễn biến những vụ việc đáng quan ngại xảy ra trên Biển Đông xuất phát từ động thái của Trung Quốc, khẳng định bản chất vô lý của Trung Quốc trên Biển Đông, nhấn mạnh yêu cầu cần có COC trong bối cảnh hiện nay và kiến nghị thái độ của các bên liên quan nhằm hướng tới mục tiêu giải quyết hòa bình tranh chấp trên Biển Đông. 

Đọc tiếp...

Ngoại giao ống dẫn dầu của Trung Quốc: Mối đe dọa của những xung đột cường độ thấp

Ngoại giao ống dẫn dầu của Trung Quốc: Mối đe dọa của những xung đột cường độ thấp

Bài viết của TS. Emmanuel Karagiannis, Đại học Macedonia nêu những thuận lợi và khó khăn trong chiến lược xây dựng và duy trì những đường dẫn dầu xuyên quốc gia của Trung Quốc tại khu vực Trung và Đông Nam Á. Bài viết được in trong Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly của Trường Đại học Havard với chủ đề "Tranh chấp biển- An ninh hàng hải tại Đông Á", (The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia) tháng 12/2010.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

         

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 5805 khách và 2 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập



Bản đồ - Hình ảnh

HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN 3