23 - 5 - 2012 | 1:31
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Cơ chế an ninh eo biển Malacca

Cơ chế an ninh eo biển Malacca

Email In PDF.

Eo biển Malắcca có vị trí vô cùng quan trọng về kinh tế, chính trị, quân sự. Do vậy, việc kiểm soát, tìm kiếm sự ảnh hưởng, duy trì an ninh eo biển này luôn là mối quan tâm hàng đầu của 3 quốc gia Malayxia, Xingapo, Indonexia – các quốc gia sở hữu và là những nước chủ yếu bảo vệ an ninh eo biển, cũng như lôi kéo mối quan tâm của các cường quốc biển như Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ.

 

I) Sự hình thành cơ chế an ninh

Từ xưa đến nay, biển Malắcca luôn là nơi có vị trí hiểm yếu về quân sự. Để kiểm soát eo biển này, khống chế con đường huyết mạch thương mại quốc tế, giành lợi ích kinh tế to lớn, mấy thế kỷ gần đây, vương quốc Mã Lai cổ đại, thực dân châu Âu và Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai đều thay nhau chiếm lĩnh một phần hoặc toàn bộ khu vực này. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Inđônêxia và Malaixia lần lượt giành được độc lập, trở thành quốc gia dân tộc. Năm 1965, bang tự trị Xinhgapo của Malaixia cũng tuyên bố độc lập. Từ đó, vùng ven bờ eo biển Malắcca với ý nghĩa hiện đại do ba nước này chính thức xác lập. Tuy nhiên, do lập trường không giống nhau, ba nước đã xảy ra tranh chấp nhiều lần trong vấn đề phân chia vùng nước eo biển. Trong đó, Inđônêxia là nước coi trọng chủ quyền eo biển sớm nhất. Năm 1957, nước này đưa ra “Tuyên bố quốc đảo”, lần đầu tiên khẳng định eo biển Malắcca thuộc phạm vi lãnh hải của Inđônêxia theo “Nguyên tắc nội thủy quốc gia quần đảo”, có chủ quyền và quyền quản lý đối với eo biển. Tiếp đó, Malaixia khẳng định chủ quyền và quyền quản lý đối với eo biển Malắcca theo “Công ước Giơnevơ về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải” và “Công ước Giơnevơ về thềm lục địa” của Liên hợp quốc năm 1958. Sau khi Xinhgapo giành được độc lập, vấn đề chủ quyền vùng eo biển cũng rất cứng rắn, không hề nhượng bộ. Vì thế, ba nước xảy ra tranh chấp vùng eo biển này. Sau khi ASEAN thành lập, các nước ven biển đàm phán vấn đề phân giới vùng biển trong khuôn khổ ASEAN. Năm 1971, tổ chức này đưa ra tuyên bố chung phản đối quốc tế hoá eo biển Malắcca và Xinhgapo. Tuyên bố nêu rõ: 1) Eo biển Malắcca và Xinhgapo không phải là eo biển quốc tế; (2) Giao thông qua hai eo biển này phải được áp dụng nguyên tắc đi qua không gây hại. Sau đó qua nhiều vòng đàm phán, trong thập niên 1970, ba nước cuối cùng đã giải quyết được tranh chấp trong vấn đề phân giới chủ quyền eo biển Malắcca. “Công ước Liên hợp quốc về Luật biển” được ký kết năm 1982 cũng xác lập và giới hạn đối với “nguyên tắc vùng nội thuỷ” quốc gia quần đảo. Điều này có nghĩa là cộng đồng quốc tế thừa nhận địa vị pháp lý quốc tế của eo biển Malắcca không thuộc “eo biển quốc tế” cũng như ba nước eo biển có chủ quyền và quyền quản lý an ninh eo biển Malắcca. Do đó, ba nước ven biển này cũng trở thành những quốc gia sở hữu và là những nước chủ yếu bảo vệ an ninh eo biển.

Tuy nhiên, việc xác định quyền sở hữu không giải quyết được vấn đề an ninh eo biển, những nhân tố phức tạp ảnh hưởng đến an ninh eo biển luôn gây khó khăn cho ba nước và các quốc gia có liên quan. Những nhân tố này bao gồm hai cấp độ là biểu hiện khách quan và lo ngại chủ quan. Nội dung liên quan đến nhiều lĩnh vực như tuyến đường biển, cướp biển, chủ nghĩa khủng bố, buôn lậu, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, bệnh truyền nhiễm, đói nghèo, di cư bất hợp pháp và mối lo ngại nước ngoài có thể can dự vào eo biển này. Hiện nay, Inđônêxia, Malaixia và Xinhgapo là nước sở hữu hợp pháp quyền kiểm soát, là bên liên quan lợi ích trực tiếp của an ninh eo biển. An ninh eo biển có ảnh hưởng quan trọng đến lợi ích kinh tế, tính mạng nhân dân, an ninh tài sản của ba nước. Trong thời kỳ đầu, mỗi nước một kiểu, thực hiện riêng rẽ nhiều biện pháp để bảo đảm an ninh eo biển. Tính chất phức tạp trong vấn đề an ninh eo biển Malắcca khiến ba nước ven biển ý thức được rằng dựa vào sức mạnh của một nước thì không thể giải quyết được mọi vấn đề mà phải xây dựng cơ chế hợp tác với các quốc gia có liên quan để cùng ứng phó.

Trong quá trình tìm kiếm biện pháp xây dựng cơ chế, do lịch sử, văn hoá, sức mạnh đất nước và vị trí địa lý khác nhau, lợi ích cơ bản từ eo biển và tính toán nội bộ của mỗi nước cũng khác nhau, do đó, họ có trọng điểm khác nhau, thái độ và biện pháp khác nhau về vấn đề an ninh eo biển trong phối hợp an ninh cũng vừa có hợp tác, vừa có xung đột và đấu tranh. Trong đó, Xinhgapo do diện tích nhỏ, dân số ít, nên về góc độ an ninh, nước này luôn có thái độ nghi kỵ với hai nước Hồi giáo lớn Inđônêxia và Malaixia về an ninh. Do đó, Xinhgapo luôn hoan nghênh các nước bên ngoài khu vực can dự vào công việc an ninh ở eo biển Malắcca, hy vọng qua đó để cân bằng thế lực. Tuy nhiên, do bị thực dân đô hộ và trải qua quá trình gian khổ giành độc lập, về mặt chủ quan, Malaixia và Inđônêxia không muốn có sự can dự của thế lực bên ngoài vào khu vực. Điều này đã tạo ra các cơ chế nhiều cấp độ, nhiều hình thức xung quanh an ninh eo biển Malắcca.

II) Sự cấu thành cơ chế an ninh eo biển Malắcca

Một là cơ chế phối hợp quốc gia ven biển.

Sự phối hợp của ba nước ở eo biển này trong vấn đề eo biển Malắcca bắt đầu từ thập niên 70 của thế kỷ XX. Năm 1971, để giải quyết vấn đề chủ quyền vùng nước, ba nước sau khi đàm phán đã ra tuyên bố chung phản đối quốc tế hoá eo biển Malắcca và Xinhgapo. Đây là sự khởi đầu chuyển từ đấu tranh sang dàn xếp phối hợp của ba nước trong vấn đề eo biển.

Những nhân tố đe doạ có thể ảnh hưởng đến an ninh eo biển tăng lên, ba nước ven bờ cũng từng bước phối hợp và hợp tác nhiều hơn. Đầu năm 1992, để ngăn chặn hoạt động cướp biển ở eo biển Malắcca và tuyến đường biển phía tây nam Xinhgapo, Inđônêxia, Malaixia và Xinhgapo đã đàm phán thúc đẩy hành động chống cướp biển, xây dựng trung tâm chống cướp biển ở Cuala Lămpơ. Hải quân Inđônêxia và Xinhgapo ký “Hiệp định tuần tra chung” tháng 7/1992 cùng bảo vệ an ninh trên biển. Hai nước này còn xây dựng kế hoạch hành động chung trên eo biển Malắcca. Tháng 4/2007, ba nước Xinhgapo, Malaixia, Inđônêxia bắt đầu phối hợp tuần tra chung, trao đổi tình hình kế hoạch tuần tra, chỉ huy, trình tự kiểm soát mỗi bên và vị trí tàu tuần tra. Tháng 5/2005, Xinhgapo và Malaixia tăng cường hợp tác, đã khởi động “hệ thống giám sát hình ảnh trên biển” (SURPIC), hải quân hai nước bắt đầu thực hiện tình huống thực tế ở eo biển Malắcca. Tháng 9/2005, Xinhgapo, Malaixia, Inđônêxia và Thái Lan cùng tuần tra trên không với tên gọi “Con mắt không trung”, cùng tăng cường giám sát trên không khu vực eo biển Malắcca. Máy bay trinh sát hải quân chở nhân viên quân sự bốn nước tuần tra vùng trời eo biển này theo định kỳ, nếu phát hiện có vấn đề, nơi xảy ra sự vụ sẽ để nước có liên quan điều động xử lý. Tháng 4/2006, quan chức quân sự của ba nước Xinhgapo, Malaixia, Inđônêxia tổ chức “Hội nghị phối hợp tuần tra chung eo biển Malắcca” tại đảo Batan Inđônêxia, đã quy định rõ hơn vấn đề hợp tác an ninh khu vực eo biển này. Năm 2008, ba nước chính thức thực hiện cơ chế hợp tác có liên quan đến eo biển Malắcca và eo biển Xinhgapo, cùng bảo vệ an ninh hàng hải và môi trường ở eo biển. Ngày 14/10/2009, Diễn đàn Hợp tác an ninh hàng hải và bảo vệ môi trường eo biển Malắcca lần thứ hai tổ chức tại Xinhgapo, đại biểu ba nước ven biển và Tổ chức Biển quốc tế đã tập trung thảo luận vấn đề an ninh và thông suốt của tuyến đường eo biển này. Cũng vào ngày hôm đó, ba nước và tổ chức trên đã ký một hiệp định kỹ thuật chung, xây dựng “Quỹ Ủy thác eo biển Malắcca của Tổ chức Biển quốc tế", nhằm hỗ trợ hợp tác giữa các bên có lợi ích liên quan ở eo biển, bảo vệ môi trường và an ninh hàng hải eo biển Malắcca.

Hai là cơ chế an ninh eo biển trong khuôn khổ Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF).

Sau khi chấm dứt cục diện hai cực, đa số các nước châu Á – Thái Bình Dương cho rằng cần thúc đẩy đối thoại an ninh đa phương. Năm 1994, các nước ASEAN đàm phán phi chính thức về vấn đề an ninh chính trị khu vực tại Diễn đàn ARF tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan). Về cơ chế hợp tác đa phương, đặc biệt là ở cấp độ chính trị ngoại giao, Diễn đàn ARF ngày càng phát huy vai trò quan trọng. Trong Diễn đàn ARF, hợp tác trên biển tại khu vực được hưởng ứng rộng rãi, đã thành lập một số tiểu ban hợp tác an ninh biển. Hội nghị ARF tổ chức trong hai ngày 30-31/3/2004 đã thảo luận việc chống Tổ chức khủng bố Jemaah Islamiyah và các tổ chức khủng bố khác tấn công tuyến đường biển và công trình quan trọng trên biển. Các đại biểu tham dự hội nghị ra tuyên bố, các nước thành viên quyết tâm thực hiện biện pháp chống khủng bố, tăng cường phối hợp về kỹ thuật, lập pháp, tấn công khủng bố, bảo đảm an ninh hàng hải. Phải nói rằng, ba nước ven biển đều có thái độ hoan nghênh các nước ASEAN tham gia công việc an ninh eo biển Malắcca. Việc làm này có thể giảm bớt khó khăn của ba nước ven biển, nhất là sức mạnh hải quân của Malaixia, Inđônêxia chưa đủ mạnh. Mặt khác, đối với Malaixia và Inđônêxia, có thể tạm thời ngăn ngừa các nước lớn bên ngoài khu vực như Mỹ, lấy cớ sức mạnh hải quân của ba nước còn hạn chế để can dự vào eo biển Malắcca.

Ba là xây dựng cơ chế hợp tác an ninh cho vấn đề an ninh eo biển Malắcca.

Một số vấn đề về an ninh eo biển chưa được giải quyết tận gốc, một phần là do thiếu thống nhất về thể chế và cấp độ pháp lý của các nước ven biển. Chẳng hạn, khi truy bắt cướp biển ở vùng biển quốc tế, nếu bọn cướp chạy vào lãnh hải của Inđônêxia, lực lượng tuần tra trên biển của Xinhgapo và Malaixia phải ngừng bám đuổi theo “quyền truy bắt” được quy định trong luật quốc tế. Điều này khiến cho việc truy bắt cướp biển xảy ra ở khu vực hai nước Xinhgapo và Malaixia không quản lý hoặc khu vực giáp ranh giữa vùng biển quốc tế với vùng biển một nước nào đó không thể thực hiện thuận lợi. Để giải quyết vấn đề kỹ thuật này, tháng 11/2004, tại Tôkyô, Nhật Bản, 16 quốc gia bao gồm 10 nước ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Xri Lanca, Bănglađét ký kết “Hiệp ước hợp tác các nước châu Á về đối phó với cướp biển và cướp có vũ trang” (ReCAAP). Đây là sáng kiến do Nhật Bản đưa ra vào năm 2001 nhằm tăng cường hợp tác quốc tế khu vực Đông Nam Á, ngăn chặn cướp biển và cướp có vũ trang. Theo hiệp định này, các nước đã định nghĩa về hành động “cướp có vũ trang trên biển”, đồng ý xây dựng một trung tâm trao đổi thông tin lâu dài nhằm thể chế hóa hiệp định hợp tác. Trung tâm này sẽ trở thành tổ chức chủ yếu để thực hiện hiệp định, Xinhgapo là nơi đặt địa điểm trung tâm trao đổi thông tin và là nước lưu trữ các văn kiện. Hiện nay, trung tâm đã chính thức đi vào hoạt động, có báo cáo đánh giá hàng năm đối với vấn đề cướp biển.

Bốn là đưa vấn đề liên quan đến an ninh eo biển Malắcca vào cơ chế an ninh đa phương. Hai cơ chế an ninh đa phương quan trọng bên ngoài Đông Nam Á là Liên minh quốc phòng 5 quốc gia (FPDA) gồm Ôxtrâylia, Malaixia, Niu Dilân, Xinhgapo và Anh, “Diễn đàn hải quân Tây Thái Bình Dương” (WPNS) đã tham gia tập trận chung chống khủng bố trên biển vào năm 2004, 2005. Diễn tập an ninh đa phương trên biển đã có vai trò cực kỳ quan trọng để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, tăng thêm lòng tin của hải quân các nước. Từ ngày 6-22/9/2006, FPDA tổ chức cuộc tập trận chung hải lục không quân với quy mô lớn nhất và nội dung phức tạp nhất từ trước đến nay. Phía Xinhgapo cho biết, sau này, FPDA sẽ chú trọng tăng cường khả năng và sự phối hợp của các nước thành viên ứng phó thách thức an ninh mới, ngoài an ninh truyền thống, còn quan tâm đến mối đe dọa an ninh phi truyền thống như chủ nghĩa khủng bố, an ninh trên biển.

Malaixia đã tỏ ý hoan nghênh ba nước thành viên khác của FPDA là Anh, Ôxtrâylia, Niu Dilân, với tiền đề không xâm phạm chủ quyền quốc gia ven biển, tham gia chương trình tuần tra chung “Con mắt trên không”, nhưng chỉ giới hạn cung cấp máy bay và thiết bị trinh sát, việc thực hiện cụ thể do Malaixia phụ trách.

III) Đặc điểm cơ chế an ninh eo biển Malắcca

Một là ảnh hưởng của các nước lớn.

Do tầm quan trọng của vị trí chiến lược eo biển, từ xưa đến nay, khu vực này luôn có bóng đen can dự của nước lớn ngoài khu vực. Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ xuất phát từ lợi ích khác nhau, luôn có ý đồ can dự vào công việc eo biển. Sự quan tâm của Mỹ đối với eo biển này có bối cảnh lớn là chuyển trọng tâm chiến lược từ châu Âu sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương là điểm gặp nhau giữa các lực lượng chiến lược trên thế giới. Đây là nơi tập trung các nước lớn như Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ, quan hệ rất phức tạp.

Mỹ phải kiềm chế, thậm chí chèn ép những nước lớn trên, eo biển Malắcca là một trong những biện pháp quan trọng để Mỹ đạt được mục đích đó. Mỹ vội vã can dự vào công việc an ninh của eo biển này, mục đích là để tăng cường ảnh hưởng và sự có mặt về quân sự, giành lợi ích chiến lược và quyền chủ đạo nhiều hơn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương cũng như Đông Nam Á.

Nguyên nhân quan trọng khiến Nhật Bản quan tâm đến an ninh eo biển là những tính toán về an ninh năng lượng và kinh tế. Là một quốc đảo thiếu tài nguyên, Nhật Bản hiểu rất rõ tầm quan trọng của vận tải đường biển đối với sự phát triển quốc gia. Cục phòng vệ Nhật Bản tuyên bố: “Đông Nam Á trong đó có eo biển Malắcca, Biển Đông, vùng biển gần Philíppin và Inđônêxia vô cùng quan trọng đối với việc vận chuyển tài nguyên thiên nhiên đến Nhật Bản, khu vực này là điểm then chốt để liên kết giao thông giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương”. Ngoài ra, Nhật Bản quan tâm như vậy đến vấn đề eo biển Malắcca, còn có ý đồ kinh tế và chính trị mở rộng ảnh hưởng đến khu vực Đông Nam Á và châu Á – Thái Bình Dương.

Những năm gần đây, Ấn Độ cũng tỏ ra rất hào hứng với việc tham gia công việc an ninh ở eo biển này, nguyên nhân chủ yếu là mong muốn chạy trước trong cuộc tranh giành quyền kiểm soát eo biển của các quốc gia bên ngoài khu vực, tránh để quyền kiểm soát này rơi vào tay của những quốc gia không hữu nghị với Ấn Độ. Do đó, Ấn Độ đã đơn phương chuẩn bị việc thúc đẩy hợp tác nhiều mặt, nhiều cấp độ với các nước ven bờ eo biển.

Chính sự quan tâm của các nước lớn bên ngoài khu vực đối với an ninh eo biển Malắcca đã làm cho việc xây dựng cơ chế an ninh eo biển luôn mang dấu ấn không thể thoát khỏi cuộc đọ sức nước lớn, ba nước ven bờ eo biển bất lực, không thể tự mình xây dựng cơ chế an ninh, tránh xa ảnh hưởng của nước lớn.

Hai là bất đồng của các nước ven bờ eo biển.

Trong không khí hợp tác an ninh, ba nước ven bờ đều hiểu rõ ổn định an ninh và việc thông suốt tuyến đường biển có lợi cho bản thân họ, đồng thời muốn sự hợp tác được cơ chế hóa cao hơn trên cơ sở hiện có. Về tổng thể, ba nước này luôn có thái độ hoan nghênh sự hợp tác của các quốc gia bên ngoài khu vực trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống, nhưng đã có những ý kiến khác nhau đối với sự hợp tác liên quan đến lĩnh vực quân sự. Inđônêxia và Malaixia không muốn các nước lớn can dự vào vấn đề eo biển, cho rằng sự tham gia của các nước lớn ảnh hưởng đến chủ quyền quốc gia của họ, vì thế có khuynh hướng giải quyết vấn đề trong cơ chế ba nước. Xinhgapo thì lại hoan nghênh sự tham gia của các nước lớn bên ngoài khu vực, mong muốn lợi dụng vấn đề an ninh eo biển để thực hiện chiến lược cân bằng nước lớn. Xinhgapo cho rằng nếu Mỹ đóng quân ở eo biển Malắcca, sẽ có lợi cho việc duy trì trật tự an ninh khu vực này, khiến các nước không dám manh động.

Ba là hình thức và cấp độ phức tạp.

Vấn đề liên quan đến an ninh của eo biển Malắcca có lúc dễ nhận thấy, có lúc tuy không dễ thấy, nhưng lại sâu sắc, có trạng thái khách quan, lại có sự lo lắng chủ quan, có phạm trù về mối đe dọa an ninh truyền thống, lại có phạm trù về mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Điều này tạo ra đặc điểm nhiều cấp độ, nhiều loại hình của cơ chế an ninh eo biển này. Hiện nay, vừa có cơ chế an ninh của ba nước ven bờ eo biển, cơ chế an ninh trong khuôn khổ ARF, cơ chế an ninh trao đổi thông tin chuyên về vấn đề cướp biển và đưa vấn đề an ninh eo biển vào cơ chế an ninh khác trong phạm vi cần quan tâm. Do nội hàm chủ đề của các cơ chế không hoàn toàn giống nhau, trong quá trình vận hành thực tế, khó tránh tình trạng nhu cầu lợi ích và việc gánh vác trách nhiệm của các nước ảnh hưởng đến nhận thức chung. Xung quanh vấn đề xây dựng cơ chế an ninh eo biển, các nước vẫn chủ trương nên mở rộng đối thoại, tăng cường sự tin cậy lẫn nhau. Tóm lại, quan hệ an ninh khu vực eo biển Malắcca vừa hợp tác vừa cạnh tranh, hợp tác là chủ lưu. Tuy nhiên, mức độ cơ chế hóa hợp tác còn không cao, càng không thể nói đến vấn đề ở cấp độ xây dựng cộng đồng an ninh.

IV) Kết luận

Do lợi ích quốc gia của Trung Quốc ngày càng được mở rộng, việc bảo vệ an ninh các tuyến đường biển quốc tế quan trọng trong đó có eo biển Malắcca là nhu cầu tất yếu của Trung Quốc. Bắt đầu từ năm 1993, Trung Quốc đã từ nước xuất khẩu dầu mỏ trở thành nước nhập khẩu dầu mỏ. Các chuyên gia dự báo, đến năm 2020 lượng dầu mỏ nhập khẩu của Trung Quốc tối thiểu là 450 triệu tấn, sự phụ thuộc nguồn dầu mỏ bên ngoài có thể lên tới 60%. 80% lượng dầu mỏ nhập khẩu phải vận chuyển thông qua eo biển Malắcca. Do đó, duy trì tuyến đường vận chuyển dầu mỏ, bảo vệ an ninh eo biển này có ý nghĩa chiến lược quan trọng thực tế đối với Trung Quốc.

Một là sử dụng các tổ chức khu vực như ASEAN để thúc đẩy duy trì và phát triển cơ chế an ninh eo biển Malắcca. Hiện nay, nhiều cường quốc khu vực và thế giới có lợi ích lớn ở eo biển này đều đang tích cực tham gia hợp tác an ninh ở eo biển. Việc xây dựng cơ chế hợp tác quốc tế giữ gìn an ninh eo biển này là một giải pháp mà tất cả cùng có lợi. Do Trung Quốc là nước lớn láng giềng của Đông Nam Á, lại có quan hệ trong lịch sử với Đông Nam Á và có đông Hoa kiều ở khu vực này, nên khi thúc đẩy xây dựng cơ chế an ninh Malắcca, Trung Quốc phải xem xét đầy đủ đến mối quan tâm của các nước có liên quan, chú ý phương thức, phát huy đầy đủ ảnh hưởng của Trung Quốc ở ASEAN, sử dụng cơ chế hợp tác hiện có, tích cực thúc đẩy sự phát triển của cơ chế hợp tác an ninh quốc tế.

Hai là tích cực thúc đẩy đối thoại an ninh trên biển. Khuôn khổ hợp tác “10+1” Trung Quốc – ASEAN tạo điều kiện rất tốt để khởi động đối thoại thẳng thắn chân thành về nhiều vấn đề an ninh trên biển. Đồng thời mở rộng đối thoại an ninh khu vực, Trung Quốc còn có thể chia sẻ thông tin và tin tức tình báo với các quốc gia có liên quan. Là một bộ phận để tăng cường hợp tác an ninh, Trung Quốc còn có thể tìm kiếm kênh hợp tác thông tin trên biển với các nước ASEAN, trao đổi thông tin và tin tức tình báo về an ninh hàng hải eo biển Malắcca, vùng biển của khu vực.

Ba là mở rộng lĩnh vực hợp tác an ninh. Trên cơ sở đối thoại an ninh và trao đổi tình báo, Trung Quốc còn có thể đi từ hợp tác an ninh mở rộng sang diễn tập quân sự chung. Nội dung diễn tập có thể chủ yếu là cứu hộ trên biển, viện trợ nhân đạo, truy bắt tội phạm ma túy. Đầu tháng 5/2007, Trung Quốc và Malaixia đã tiếp tục đàm phán về nội dung cụ thể trong “Bản ghi nhớ về hợp tác trên biển Trung Quốc – Malaixia”, hai bên đồng ý mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực như trao đổi thông tin, huấn luyện đào tạo, cùng bảo vệ vùng biển có liên quan. Tháng 5/2007, tàu chiến “Nang Phán” của Trung Quốc khi tham gia triển lãm quốc tế tại Xinhgapo về phòng thủ trên biển và “Diễn đàn hải quân Tây Thái Bình Dương” đã tham gia diễn tập cứu hộ và chống cướp biển gây được tiếng vang lớn. Đó cũng là một tiền lệ rất tốt./.

 

Theo Diễn đàn kinh tế và chính trị thế giới

 

Văn Cường (gt)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Về khả năng xung đột Trung Quốc – Philippin tại Biển Đông

Về khả năng xung đột Trung Quốc – Philippin tại Biển Đông

Bộ phận dự báo, phân tích và tư vấn rủi ro (EIU) thuộc Tạp chí Nhà Kinh tế (Anh) ngày 16/5 đưa ra nhận định của cơ quan nghiên cứu uy tín này về khả năng bùng phát xung đột tại Biển Đông sau những đụng độ mới đây giữa Trung Quốc và Philíppin, đồng thời đánh giá về khả năng hợp tác cùng khai thác giữa Philíppin và Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nghiên cứu của Bộ Quốc Phòng Pháp về Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Nghiên cứu của Bộ Quốc Phòng Pháp về Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa có diện tích bề mặt chưa quá 15 km² là mục tiêu theo đuổi của những yêu sách và xung đột gia tăng kể từ những năm 1970. Những lợi ích từ yêu sách hai quần đảo này đối với các quốc gia là gì?

Đọc tiếp...

Leszek Buszynski, Biển Đông: Dầu hỏa, Yêu sách biển và cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung

Leszek Buszynski, Biển Đông: Dầu hỏa, Yêu sách biển và cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung

Tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông đang kích thích sự can dự của Mỹ. Những yêu sách chủ quyền, nhu cầu tài nguyên đang khiến cho căng thẳng tại Biển Đông gia tăng và cánh cửa giải quyết triệt để vấn đề trở nên hẹp hơn. Đọc tiếp...

Cửu Long khuấy biển: Trung Quốc làm căng thẳng Biển Đông

Cửu Long khuấy biển: Trung Quốc làm căng thẳng Biển Đông

Việc thiếu sự chỉ đạo nhất quán và phối hợp chặt chẽ về vấn đề Biển Đông trong nội bộ Trung Quốc, thêm vào đó là sự mơ hồ trong chính sách Biển Đông của chính quyền trung ương, các cơ quan, lực lượng liên quan đã lợi dụng điều này nhằm gia tăng lợi ích cục bộ của mình. Tất cả các nhân tố trên là nguyên nhân dẫn đến tình hình căng thẳng tại Biển Đông hiện nay

Đọc tiếp...

Liệu Mỹ có bị cuốn vào một cuộc xung đột vũ trang ở Biển Đông?

Liệu Mỹ có bị cuốn vào một cuộc xung đột vũ trang ở Biển Đông?

Trong bài viết trên trang Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (Mỹ), Bonnie Glaser (CSIS) đánh giá rằng khả năng xảy ra xung đột vũ trang ở Biển Đông là hoàn toàn có thể. Tác giả đề cập đến 3 trường hợp Mỹ có thể bị cuốn vào cuộc xung đột đó đồng thời khuyến nghị một số biện pháp ngoại giao phòng ngừa.

Đọc tiếp...

M. Taylor Fravel, Chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

M. Taylor Fravel, Chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Trì hoãn là chiến lược mà Trung Quốc đã sử dụng đối với Biển Đông từ giữa những năm 90 đến nay. Bài viết sẽ đi sâu phân tích vì sao Trung Quốc lại sử dụng chiến lược này và một số kết quả mà Trung Quốc đạt được cũng như tác động như thế nào đối với khu vực

Đọc tiếp...

Trung Quốc có thực sự điều chỉnh chính sách ở Biển Đông?

Trung Quốc có thực sự điều chỉnh chính sách ở Biển Đông?

Gần đây, Trung Quốc dường như đang theo đuổi cách tiếp cận mới ôn hòa hơn trong tranh chấp Biển Đông. Mục tiêu chủ yếu của chính sách thân thiện hơn là nhằm khôi phục hình ảnh của nước này ở Đông Á và ngăn chặn Mỹ thúc đẩy vai trò trong khu vực. Chưa biết cách tiếp cận mới của Bắc Kinh có thể kéo dài hay không, nhưng ít nhất nó cũng thể hiện Trung Quốc có thể điều chỉnh chính sách đối ngoại của họ. 

Đọc tiếp...

Biển Đông: Vùng nước dữ cho việc xây dựng liên minh

Biển Đông: Vùng nước dữ cho việc xây dựng liên minh

Mỹ đang phải đối mặt với những trở ngại tại Biển Đông. Washington cần tiến hành các hoạt động hợp tác biển song phương và với các nhóm nước đặc biệt nhằm xây dựng những mạng lưới liên minh khu vực đủ mạnh để giải quyết các vấn đề an ninh và đảm bảo lợi ích của Mỹ.

Đọc tiếp...

Will Rogers, Vai trò của tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông

Will Rogers, Vai trò của tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông

Nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên gia tăng trong bối cảnh nguồn cung suy giảm đang đặt ra những thách thức đối với các nước xung quanh Biển Đông. Điều này sẽ tác động thế nào đến cách ứng xử của họ đối với bên ngoài: gia tăng cạnh tranh hay thúc đẩy hợp tác?. Đọc tiếp...

Peter A. Dutton, Những rạn nứt trong nền tàng toàn cầu: Luật pháp quốc tế và sự bất ổn tại Biển Đông

Peter A. Dutton, Những rạn nứt trong nền tàng toàn cầu: Luật pháp quốc tế và sự bất ổn tại Biển Đông

Trung Quốc đang đòi hỏi lợi ích của mình theo những cách thức có thể đe dọa đến những nguyên tắc nền tảng đang điều phối quan hệ quốc tế. Xu hướng này được minh chứng rõ nét nhất tại Biển Đông. Mỹ cần can dự để Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế hiện hành.

Đọc tiếp...

Năng lực "Chống hải quân" gần bờ của Trung Quốc mới là thách thức đối với Mỹ và khu vực

Năng lực

Năng lực hải quân Trung Quốc đang ngày càng phát triển, tuy nhiên tương quan giữa năng lực tác chiến gần bờ và xa bờ của Trung Quốc lại tồn tại khoảng cách khác biệt rất lớn, và sẽ còn một khoảng cách rất dài để theo kịp Mỹ. Giải quyết và hiểu thực sự bản chất của vấn đề này sẽ góp phần tránh xung đột đối đầu quân sự Mỹ - Trung cũng như sự xuất hiện của chủ nghĩa bá quyền.

Đọc tiếp...

Ian Storey, Ngoại giao song phương và đa phương của Trung Quốc ở Biển Đông

Ian Storey, Ngoại giao song phương và đa phương của Trung Quốc ở Biển Đông

Trung Quốc tăng cường nỗ lực ngoại giao vừa trấn an các nước láng giềng, vừa củng cố yêu sách tại  Biển Đông. Mặc dù phương thức song phương là chủ đạo, nhưng tại sao nước này lại đàm phán hai thỏa thuận với ASEAN trong hai thập kỷ qua? Mục tiêu là duy trì nguyên trạng? Đọc tiếp...

M. Taylor Fravel, An ninh ở Biển Đông và cuộc tranh giành các quyền trên biển

M. Taylor Fravel, An ninh ở Biển Đông và cuộc tranh giành các quyền trên biển

Tranh chấp Biển Đông hiện nay có thể dẫn đến sự bất ổn khu vực, thậm chí là xung đột vũ trang, tuy nhiên những cơ hội hợp tác để giảm sự gia tăng căng thẳng vẫn tồn tại. Và về chiến lược lâu dài, Mỹ cần phải có các nỗ lực can dự cân bằng để duy trì ổn định ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Patrick M. Cronin và Robert D. Kaplan, Chiến lược của Mỹ đối với Biển Đông

Patrick M. Cronin và Robert D. Kaplan, Chiến lược của Mỹ đối với  Biển Đông

Lợi ích của Mỹ đang bị đe dọa trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Những luật chơi mà Mỹ đã thiết lập đang có nguy cơ “bị xem xét lại”, điển hình lại tại Biển Đông. Mỹ cần làm gì? Các khuyến nghị đầy đủ của think-tank hàng đầu của Mỹ CNAS.

Đọc tiếp...

Mùa Đông của Biển Đông: Tình hình, cục diện và kế sách cho Trung Quốc

Mùa Đông của Biển Đông: Tình hình, cục diện và kế sách cho Trung Quốc

Loạt bài của các chuyên gia về Biển Đông đăng trên tạp chí “Tri thức thế giới” của Bộ Ngoại giao Trung Quốc: một nửa giang sơn của Trung Quốc là phần bao bọc xung quanh phía Nam nhưng đang ở trong trạng thái của “mùa Đông lạnh giá”? “Trung Quốc cần phải có kế sách đối phó như thế nào?”

Đọc tiếp...

GS. Carlyle A.Thayer, BIỂN ĐÔNG: CÓ CHỈ LÀ CỦA TRUNG QUỐC?

GS. Carlyle A.Thayer, BIỂN ĐÔNG: CÓ CHỈ LÀ CỦA TRUNG QUỐC?

Trung Quốc đã phát tín hiệu phủ nhận UNCLOS bằng việc khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với Biển Đông, quan điểm của Bắc Kinh đã gây nên xung đột với các quốc gia khác. Để đạt giải pháp công bằng cho tất cả các bên, các nước ASEAN cần liên kết để tìm ra một tiếng nói chung trong cách tiếp cận để giải quyết vấn đề Biển Đông đối với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Thất bại tại Biển Đông nhưng Trung Quốc vẫn chìm đắm trong giấc mộng

Thất bại tại Biển Đông nhưng Trung Quốc vẫn chìm đắm trong giấc mộng

Về khía cạnh chiến lược, chính sách ngoại giao, quan hệ quốc tế và truyền thông trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc đã hoàn toàn bại trận. Dường như không một quốc gia nào ủng hộ lập trường cũng như lối hành xử của nước này. Bừi viết của Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Á, Đại học Quốc gia Singapore, Trịnh Vĩnh Niên trên Liên hợp Buổi sáng phân tích về nguyên nhân thất bại cũng như đối sách cho Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chính sách Biển Đông của Mỹ trong quan hệ với Trung Quốc

Chính sách Biển Đông của Mỹ trong quan hệ với Trung Quốc

 Báo cáo của Trung tâm An ninh Mới của Mỹ (CNAS) cho rằng các lợi ích của Mỹ đang ngày càng bị đe dọa trước sự lớn mạnh của Trung Quốc, nhất là trước việc nước này sẵn sàng “xem xét lại” các luật chơi đã được thiết lập. Mỹ cần không ngừng quan tâm đến Biển Đông và tăng cường hợp tác. Hợp tác chỉ có thể đạt hiệu quả dựa trên sức mạnh răn đe quân sự của Mỹ.

Đọc tiếp...

Tranh chấp Biển Đông trong quan hệ ASEAN và Trung Quốc: Đa phương và Song phương

Tranh chấp Biển Đông trong quan hệ ASEAN và Trung Quốc: Đa phương và Song phương

Từ việc phân tích tổng hợp các nhân tố dẫn đến căng thẳng và kéo dài trong tranh chấp Biển Đông, TS. Aileen S.P Baviera , Đại học Philippines đề cập đến các giải pháp: song phương, đa phương, hợp tác về an ninh hàng hải nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp Biển Đông, trong đó tác giả nhấn mạnh đến vai trò tiếp cận đa phương.

Đọc tiếp...

Liệu có thể giải quyết tranh chấp Biển Đông? Những chọn lựa của ASEAN trước một Trung Quốc quyết đoán

Liệu có thể giải quyết tranh chấp Biển Đông? Những chọn lựa của ASEAN trước một Trung Quốc quyết đoán

Bài viết của GS. Leszek Buszynski, Đại học Quốc gia Úc, phân tích nhân tố địa chính trị chiến lược trong tranh chấp Biển Đông. Trước một Trung Quốc ngày một quyết đoán, nếu ASEAN không đoàn kết và đi đến thống nhất lập trường trong tranh chấp thì giải pháp cuối cùng cho Biển Đông rất xa vời.

Đọc tiếp...

Báo cáo đặc biệt của Mỹ về tranh chấp tại Biển Đông và Biển Hoa Đông

Báo cáo đặc biệt của Mỹ về tranh chấp tại Biển Đông và Biển Hoa Đông

Bản báo cáo của của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á (NBR) của Mỹ phân tích, đánh giá những rủi ro ở vùng Biển Đông, biển Hoa Đông và Vịnh Thái Lan; các xu hướng gần đây tại các vùng biển tranh chấp - bao gồm cả tích cực và tiêu cực; các rào cản và cơ hội để thúc đẩy hợp tác. Cuối cùng, báo cáo đề xuất một loạt các kiến nghị chính sách cho các bên liên quan. Bản báo cáo được thực hiện bởi các chuyên gia quốc tế hàng đầu trong lĩnh vực này.

Đọc tiếp...

Trung Quốc: Tọa đàm hẹp về tình hình Biển Đông và lợi ích, chiến lược của Trung Quốc

Trung Quốc: Tọa đàm hẹp về tình hình Biển Đông và lợi ích, chiến lược của Trung Quốc

Tọa đàm tại Bắc Kinh giữa các chuyên gia hàng đầu của Trung Quốc, tập trung phân tích tầm quan trọng của biển đối với sự phát triển của Trung Quốc, những diễn biến gấn đây về tình hình Nam Hải (Biển Đông), đặc biệt là nhân tố Mỹ và ảnh hưởng đến cục diện xung quanh Trung Quốc. Các học giả cũng đưa ra các kiến nghị chính sách cho Chính phủ Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Đọc tiếp...

Trung Quốc có thể bảo vệ được "lợi ích cốt lõi" tại Biển Đông hay không?

Trung Quốc có thể bảo vệ được

Đặt giả thuyết rằng Trung Quốc thực sự coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”, bài viết của Toshi Yoshihara James R. Holmes, Đại học Hải chiến Mỹ, phân tích khả năng thành công của Trung Quốc trong việc bảo vệ “lợi ích cốt lõi” của mình tại Biển Đông. Khía cạnh mà tác giả tập trung phân tích chủ yếu nhằm vào năng lực quốc phòng của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

Đọc tiếp...

ASEAN và tranh chấp Biển Đông

ASEAN và tranh chấp Biển Đông

Bài viết của GS. Baldas Ghoshal, Thành viên danh dự của Viện Nghiên cứu Hòa bình và Xung đột (Ấn Độ), nhìn vào cách tiếp cận của ASEAN đối với tranh chấp Biển Đông, kiểm định tính hiệu quả của ASEAN trong việc đối phó với các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc, bên tranh chấp chính, và đánh giá triển vọng xoa dịu căng thẳng trong khu vực bằng những khuôn khổ pháp lý hiện hành. Đọc tiếp...

Tuyên bố Hà Nội của Clinton về Biển Đông: Khởi nguồn chiến lược kiềm chế Trung Quốc của Mỹ?

Tuyên bố Hà Nội của Clinton về Biển Đông:  Khởi nguồn chiến lược kiềm chế Trung Quốc của Mỹ?

Bài viết của TS. Renato Cruz De Castro (Philippines) nghiên cứu ngụ ý chính sách dài hạn của Mỹ trong Tuyên bố Hà Nội ngày 24/7/2010 của Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton về tranh chấp Biển Đông, đó là chính sách kiềm chế (constrainment ) đối với một Trung Quốc đang ngày càng quyết đoán trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ. Bài viết cũng đưa ra những thách thức về khả năng thành công của với chính sách này.

Đọc tiếp...

Đánh giá hiệu quả các khuôn khổ và cơ chế về an ninh biển trên Biển Đông hiện nay

Đánh giá hiệu quả các khuôn khổ và cơ chế về an ninh biển trên Biển Đông hiện nay

Trong bối cảnh tình hình Biển Đông căng thẳng, bài nghiên cứu của GS. Peter Dutton, Viện nghiên cứu Biển Trung Quốc, Học viện Hải quân Mỹ, đánh giá vai trò của các khuôn khổ và cơ chế an ninh biển hiện tại như Công ước luật biển 1982 hay Tuyên bố ứng xử 2002 trong việc duy trì hoà bình và thúc đẩy phát triển ở khu vực. Bài viết cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm xây dựng lòng tin và đề ra tiến trình hướng tới sự ổn định lâu dài.

Đọc tiếp...

Vai trò của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông

Vai trò của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông

Bài viết của tác giả Trang Ngọc Hoa, đăng trên trang trang mạng “Viện Nghiên cứu các Vấn đề Quốc tế Trung Quốc – China Institute of International studies” đã nêu ra một số đánh giá và phân tích của phía Trung Quốc về lợi ích, vai trò và chính sách của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông. Đọc tiếp...

Địa chính trị, Hải quân và Chiến lược ở Biển Đông

Địa chính trị, Hải quân và Chiến lược ở Biển Đông

Bài nghiên cứu của hai học giả Trung tâm Tài nguyên và An ninh Đại dương Quốc gia Úc, Đại học  New South Wales, Úc phân tích ba lĩnh vực trong vấn đề Biển Đông: địa chính trị, phát triển hải quân và chiến lược.  Trong đó nghiên cứu cụ thể  về việc Trung Quốc phản đối các hoạt động quân sự ở vùng đặc quyền kinh tế nhằm thể hiện quyết tâm tăng cường vị thế chiến lược tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Những sự việc căng thẳng trên Biển Đông gần đây: Đã đến lúc cần Bộ quy tắc ứng xử?

Những sự việc căng thẳng trên Biển Đông gần đây: Đã đến lúc cần Bộ quy tắc ứng xử?

Bàn về những sự việc căng thẳng trên Biển Đông thời gian gần đây, học giả Aileen S.P.Baviera vừa có bài viết đăng trên RSIS Commentaries No. 91/2011 ngày 14/6, nhan đề China and the South China Sea: Time for Code of Conduct?; hoặc trên The Manila Times.Tác giả đã nêu diễn biến những vụ việc đáng quan ngại xảy ra trên Biển Đông xuất phát từ động thái của Trung Quốc, khẳng định bản chất vô lý của Trung Quốc trên Biển Đông, nhấn mạnh yêu cầu cần có COC trong bối cảnh hiện nay và kiến nghị thái độ của các bên liên quan nhằm hướng tới mục tiêu giải quyết hòa bình tranh chấp trên Biển Đông. 

Đọc tiếp...

Ngoại giao ống dẫn dầu của Trung Quốc: Mối đe dọa của những xung đột cường độ thấp

Ngoại giao ống dẫn dầu của Trung Quốc: Mối đe dọa của những xung đột cường độ thấp

Bài viết của TS. Emmanuel Karagiannis, Đại học Macedonia nêu những thuận lợi và khó khăn trong chiến lược xây dựng và duy trì những đường dẫn dầu xuyên quốc gia của Trung Quốc tại khu vực Trung và Đông Nam Á. Bài viết được in trong Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly của Trường Đại học Havard với chủ đề "Tranh chấp biển- An ninh hàng hải tại Đông Á", (The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia) tháng 12/2010.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

         

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 5736 khách và 2 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập



Bản đồ - Hình ảnh

HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN 3