21 - 8 - 2019 | 21:02
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn: Những thách thức địa chính trị trên Biển Đông mà Trung Quốc đang phải đối mặt

Phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn: Những thách thức địa chính trị trên Biển Đông mà Trung Quốc đang phải đối mặt

Email In PDF.

Bài phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn nhận định tình hình Biển Đông mà ông đã nắm được qua cuộc trao đổi với chuyên gia, học giả các viện nghiên cứu chính sách nhân chuyến công tác tới Mỹ, Nhật Bản và Úc gần đây, đồng thời đưa ra một số phán đoán và phân tích về tình hình địa chính trị ở Biển Đông hiện nay.

 

 

Ghi chú: Nội dung dưới đây là toàn bộ bản dịch sang tiếng Việt từ bài phát biểu bằng tiếng Trung Quốc của ông Ngô Sỹ Tồn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biển Đông Trung Quốc tại Diễn đàn Chiến lược Biển Trung Quốc lần thứ ba tổ chức tại Đại học Phúc Đán (Thượng Hải) ngày 21/9/2018, bài viết được dịch sang tiếng Việt nhằm mục đích cung cấp thông tin và tư liệu nghiên cứu cho độc giả. Do đó, không thể hiện quan điểm của website nghiencuubiendong.vn hay quan điểm của Việt Nam.

Sau đây tôi muốn kết hợp tình hình ở Biển Đông (Trung Quốc trong văn bản gốc gọi là Biển Nam Trung Hoa, hoặc Biển Đông) hiện nay với một số tình hình mà tôi đã nắm được qua cuộc trao đổi với chuyên gia, học giả các viện nghiên cứu chính sách nhân chuyến công tác tới Mỹ, Nhật Bản và Úc gần đây, đưa ra một số phán đoán và phân tích để mọi người cùng tham khảo về tình hình địa chính trị ở Biển Đông hiện nay.

Thứ nhất, cuộc đọ sức quân sự giữa Trung Quốc và Mỹ là thách thức lớn nhất đối với tình hình Biển Đông hiện nay, vấn đề Biển Đông sẽ tiếp tục là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến xu hướng quan hệ Trung-Mỹ và tình hình an ninh trong khu vực.

Hiện nay, các học giả và giới hoạch định chính sách của Trung Quốc, Mỹ, Úc và Nhật Bản đều cùng có ý kiến thống nhất là: Sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ ở Biển Đông liên quan đến cuộc tranh giành lợi ích địa chính trị và quyền làm chủ trật tự khu vực, và đã hình thành xu thế tăng dần đều, hai bên rất khó có dư địa cho sự thỏa hiệp trong thời gian ngắn sắp tới. Giới hoạch định chính sách của Mỹ xuyên tạc việc Trung Quốc xây dựng các đảo, đá và triển khai trang thiết bị ở Biển Đông là đang tìm cách kiểm soát toàn bộ vùng biển này, vì thế thường xuyên thực hiện chương trình tự do hàng hải và có các hành động quân sự với hình thức khác để ngăn chặn các hoạt động của Trung Quốc ở trên biển, đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới mâu thuẫn và cuộc đọ sức giữa hai bên leo thang. Thứ hai, về mặt lựa chọn chiến lược, các quốc gia ngoài khu vực như Mỹ, Nhật Bản và Úc đều áp dụng sách lược đối đầu, trực tiếp chĩa mũi nhọn về phía Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

Từ năm 2010 đến 2016, Mỹ coi can thiệp vào các vấn đề ở Biển Đông là điểm tựa cho việc thúc đẩy chiến lược tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương, triển khai một loạt hoạt động chiến lược ở khu vực Biển Đông. Ví dụ: mượn cớ thực thi chương trình tự do hàng hải để áp sát trinh sát và thu thập tình báo, ký kết với Philippines Thỏa thuận tăng cường hợp tác quốc phòng thời hạn 10 năm, vì vậy được phép sử dụng 5 căn cứ quân sự của nước này. Sau khi Mỹ đưa ra chiến lược “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương” vào tháng 11/2017, nhiều học giả Mỹ cho rằng ý đồ đằng sau chiến lược này là xây dựng một khối an ninh khu vực để bao vây Trung Quốc, duy trì ưu thế chủ đạo của Mỹ trong cục diện quyền lực ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển nối liền Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, châu Á và châu Đại Dương, cũng có thể nói là trái tim của bản đồ địa chính trị Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, rõ ràng đây là sự cân nhắc quan trọng khi Mỹ thực hiện chiến lược “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”. Trong khuôn khổ của chiến lược trên, Mỹ đang thông qua việc tiến hành thường xuyên chương trình tự do hàng hải và biểu dương lực lượng, tăng cường hợp tác an ninh với Việt Nam, tăng cường liên minh quân sự Mỹ-Philippines, lôi kéo Ấn Độ, Nhật Bản, Úc, thậm chí cả Anh và Pháp can thiệp vào vấn đề nội bộ ở Biển Đông, dùng chương trình tự do hàng hải để thách thức lợi ích của Trung Quốc ở Biển Đông.

Nhật Bản đang đẩy nhanh xây dựng chiến lược “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương” trong đó coi Trung Quốc là đối thủ chiến lược đặc biệt, Biển Đông và các vấn đề trên biển đã trở thành một điểm rất quan trọng khi Nhật Bản thúc đẩy ý tưởng chiến lược này. Gần đây, Quỹ hòa bình Sasakawa của Nhật Bản đã tài trợ kính phí cho học giả 4 nước Mỹ, Nhật Bản, Úc và Ấn Độ cùng viết báo cáo “Kiến nghị chính sách của 4 nước về tăng cường an ninh khu vực Ấn Độ Dương”, đề xuất muốn tăng cường sự hợp tác giữa 4 nước trong lĩnh vực chính trị, ngoại giao, quân sự và an ninh, như mời Úc tham gia cuộc tập trận chung Malabar, cùng tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng cho Ấn Độ Dương. Báo cáo này có những nội dung trực tiếp nhằm vào Trung Quốc, và Biển Đông đã trở thành khu vực trọng điểm để 4 nước này bắt tay với nhau. Báo cáo này cho rằng 4 nước nên thực hiện chiến lược “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương” để ngăn chặn các hành động quân sự hóa của Trung Quốc ở Biển Đông. Bản báo cáo cũng đề nghị Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Úc liên kết với các nước khác phản đối việc Trung Quốc xây dựng căn cứ quân sự vĩnh viễn ở Ấn Độ Dương, hỗ trợ các nước ở Ấn Độ Dương thoát khỏi sự phụ thuộc vào đầu tư và chính trị của Trung Quốc, hỗ trợ các nước này độc lập về mặt kinh tế và an ninh.

Úc cho rằng chiến lược “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương” được đưa ra xuất phát từ những cân nhắc về lợi ích địa chính trị và kinh tế trong bối cảnh Trung Quốc đang trỗi dậy nhanh chóng và trọng tâm quyền lực của hệ thống quốc tế đẩy nhanh dịch chuyển về Đông Á. Đặc biệt, Úc cho rằng Trung Quốc đang dùng sức mạnh để “làm thay đổi nguyên trạng”, không tuân thủ trật tự quốc tế dựa trên các quy tắc ở Biển Đông, khiến nước này không còn lòng tin và có cảm giác mất an toàn. Úc sẽ coi liên minh quân sự với Mỹ là cơ sở, mở rộng và tăng cường hợp tác quân sự với Mỹ, hỗ trợ các hành động quân sự của Mỹ ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương để đối phó với khả năng Trung Quốc giữ chủ đạo trong các vấn đề an ninh, kinh tế của khu vực này.

 Vì vậy, dù Mỹ hay các đồng minh như Nhật Bản và Úc cũng đều đã lên kế hoạch thiết lập khối quân sự mang tính khu vực và cơ chế an ninh khu vực mang tính khu biệt mới, tình hình địa chính trị từ biển Hoa Đông, Biển Đông cho tới Ấn Độ Dương do vậy sẽ chịu tác động lớn. Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển nối liền Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương, là khu vực trung tâm để Mỹ, Nhật Bản và Úc thực thi chiến lược “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”, từ đó dẫn tới các cuộc cạnh tranh địa chính trị sẽ ngày càng trở nên khốc liệt.

Thứ ba, việc Mỹ lấy danh nghĩa thực hiện chương trình tự do hàng hải để chĩa mũi nhọn vào các hoạt động tự do hàng hải và thu thập tình báo của Trung Quốc ở Biển Đông đã làm cho cuộc đọ sức quân sự trên biển giữa hai nước trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.

Kể từ khi Trump nhậm chức tổng thống tới nay, Mỹ đã thực hiện 7 chương trình tự do hàng hải ở Biển Đông, trong đó 3 lần có các hoạt động áp sát vùng biển gần quần đảo Trường Sa và Đá Vành Khăn. Mỹ cho rằng Đá Vành Khăn “nổi khi triều thấp” nên Trung Quốc không thể tuyên bố chủ quyền đối với nó. Xuất phát từ nhận định này, Mỹ có thể coi vùng biển nằm ngoài vùng an toàn 500m gần đá Vành Khăn là vùng biển quốc tế. Đồng thời, Mỹ còn lập luận rằng tàu ngầm không người lái thuộc tài sản quốc gia, được hưởng quyền miễn trừ chủ quyền, dù ở bất cứ vùng biển nào Trung Quốc cũng không được tịch thu, từ đó Mỹ có thể sử dụng tàu ngầm không người lái để thu thập thông tin tình báo và các hoạt động do thám ở Biển Đông.

Rõ ràng, Mỹ đã thường xuyên thực hiện chương trình tự do hàng hải ở Biển Đông, đồng thời cũng nhận được sự ủng hộ của các quốc gia trong và ngoài khu vực như Úc, Nhật Bản, Anh, Pháp, thậm chí cả Hàn Quốc. Tuy nhiên Mỹ vẫn chưa hài lòng, cho rằng so với các cuộc diễn tập quân sự liên tục, quy mô lớn ở khu vực có tranh chấp, chương trình tự do hàng hải là hành động quân sự hòa bình nhất ở Biển Đông. Mỹ “nếu muốn kiềm chế Trung Quốc thì cần có những biện pháp mạnh tay hơn chương trình tự do hàng hải”.

Thứ tư, Mỹ, Nhật Bản, Úc đều cho rằng Trung Quốc quân sự hóa các đảo và đá ở Biển Đông, đồng thời coi đó như một cái cớ để mở rộng sự hiện diện quân sự tại Biển Đông nhằm tìm cách tối đa hóa lợi ích địa chính trị.

Trung Quốc và Mỹ có những khác biệt lớn trong định nghĩa và nhận thức về khái niệm quân sự hóa các đảo và đá ở Biển Đông. Trung Quốc nhiều lần nhấn mạnh rằng việc xây dựng các đảo, đá cũng như triển khai trang thiết bị có liên quan ở vùng biển này xuất phát từ việc nâng cao khả năng cung cấp các sản phẩm công cho khu vực và là sự phòng vệ cần thiết, trong khi phía Mỹ cho rằng chỉ cần xây dựng và triển khai các cơ sở và trang thiết bị với đặc tính và sử dụng cho mục đích quân sự  là Biển Đông đã có năng lực quân sự, đây chính là quân sự hóa. Dù là Anh, Pháp, Nhật Bản hay Việt Nam thì ban đầu cũng đều sử dụng biện pháp quân sự hóa để hiện diện ở Biển Đông. Việc Trung Quốc xây dựng đảo, đá ở Trường Sa, đặc biệt là xây dựng 3 căn cứ quân sự ở Đá Vành Khăn, Đá Chữ Thập và Đá Subi đã làm thay đổi xu hướng địa chính trị của Biển Đông. Các học giả Mỹ cho rằng, Trung Quốc hiện nay đã triển khai các trang thiết bị ở các đảo và đá ở Biển Đông như máy bay quân sự, tên lửa, dùng vũ lực thu hồi các đảo, đá bị chiếm lĩnh ở Trường Sa, kiểm soát Biển Đông. Rõ ràng là việc xây dựng đảo, đá và triển khai quân sự của Trung Quốc đã không còn mang tính phòng thủ nữa, mà đang phát đi tín hiệu đe dọa tới Mỹ, Nhật Bản và các nước láng giềng...

Dựa trên những nhận định như vậy, một số học giả Mỹ chẳng hạn như chuyên gia vấn đề an ninh Trung Quốc thuộc Quỹ hòa bình quốc tế Carnegie Michael Swaine cho rằng Chính quyền Obama đã có những hành động quá mềm yếu trong vấn đề Biển Đông, không ngăn chặn có hiệu quả việc Trung Quốc xây dựng, quân sự hóa các đảo, đá, trong tương lai Mỹ phải ngày càng kiên định hơn khi đối phó các hành động quân sự hóa Biển Đông của Trung Quốc.

Úc cho rằng, mặc dù Trung Quốc nhiều lần nhấn mạnh xây dựng các đảo, đá và triển khai trang thiết bị liên quan ở Biển Đông với mục đích tự vệ và cung cấp các sản phẩm công, nhưng cộng đồng quốc tế rất khó xác định sự khác biệt giữa các vũ khí mang tính phòng thủ và tấn công, không thể phán đoán Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực trong tình huống nào. Dựa trên đánh giá này, Úc cảm thấy vô cùng bất an trước việc Trung Quốc xây dựng các đảo, đá và triển khai trang thiết bị liên quan ở Biển Đông, cho rằng Trung Quốc có thể triển khai sức mạnh từ phía Bắc và phía Tây Úc, từ eo biển Đài Loan, Hoa Đông và Biển Đông tạo thành mối đe dọa đối với an ninh quốc gia. Do đó, các học giả Úc đề xuất nước này nên xem xét ý nghĩa chiến lược của Biển Đông đối với đất nước mình từ góc nhìn xa hơn. Ví dụ, Úc nên đóng vai trò trung gian hòa giải giữa Trung Quốc và các nước có tranh chấp để ngăn chặn Trung Quốc bắt nạt các nước nhỏ ở xung quanh Biển Đông; đi đầu trong hợp tác an ninh phi truyền thống như tấn công cướp biển; cử tàu chiến và máy bay đến Biển Đông tham gia chương trình tự do hàng hải của Mỹ, ngăn chặn hành vi Trung Quốc quân sự hóa các đảo và đá ở Biển Đông.

Nhật Bản dựa vào chủ đề quân sự hóa các đảo, đá để tiếp tục mở rộng sức mạnh và các hoạt động quân sự ở Biển Đông. Báo cáo nghiên cứu của 4 nước trình lên Quỹ hòa bình Sasakawa gần đây đã đề xuất Nhật Bản cần tăng thêm hạm đội hải quân ở Biển Đông và Ấn Độ Dương, triển khai tàu ngầm, nâng cao khả năng chiến đấu tầm xa. Điều này đã được chứng thực qua một loạt hành động của Lực lượng phòng vệ trên biển Nhật Bản trong thời gian gần đây. Sau khi Lực lượng phòng vệ trên biển đưa tàu chở máy bay trực thăng Izumo tiến vào Biển Đông vào tháng 6/2017, thì lại tiếp tục cử tàu sân bay trực thăng Kaga lớp Izumo (gồm cả tàu ngầm) tiến vào hoạt động ở Biển Đông và Ấn Độ Dương vào tháng 8/2018. Nhật Bản còn công khai tuyên bố sẽ định kỳ cử tàu chiến tiến vào Biển Đông và Ấn Độ Dương để thể hiện sự hiện diện quân sự liên tục của nước này ở Biển Đông. Ngày 13/9, Nhật Bản lần đầu tiên cử tàu ngầm Kuroshio, lớp Oyashio cùng tàu sân bay trực thăng Kaga tiến hành diễn tập bí mật ở Biển Đông.

Có thể nhận thấy Mỹ, Nhật Bản và Úc đang mở rộng sự hiện diện quân sự của họ tại Biển Đông bằng cách nhào nặn Trung Quốc quân sự hóa các đảo và đá ở Biển Đông. Nhưng sự bóp méo và các hành động đối đầu gay gắt của 3 nước nói trên đối với việc Trung Quốc xây dựng các đảo, đá ở Biển Đông chỉ làm gia tăng những phán đoán sai và thái độ thù địch, dẫn tới rủi ro của xung đột trên biển không ngừng tăng lên.

Thứ năm, về việc thành lập trật tự ở Biển Đông dựa trên luật pháp, cuộc tranh giành quyền phát ngôn và sức ảnh hưởng giữa Trung Quốc với các nước như Mỹ, Nhật Bản xoay quanh cơ chế hợp tác và xây dựng quy tắc là không thể tránh khỏi.

Kể từ đầu thế kỷ 20 tới nay, Trung Quốc luôn dốc sức hợp tác với các nước ASEAN, thông qua các cuộc tham vấn về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), thiết lập các quy tắc và cơ chế để ổn định tình hình Biển Đông, thúc đẩy giải quyết tranh chấp theo phương thức hòa bình, đẩy mạnh hợp tác khu vực. Vì vậy, kể từ năm 2017 tới nay, Trung Quốc và các nước ASEAN đã đẩy nhanh tiến độ đàm phán COC, hiện nay các cuộc tham vấn đã bước vào giai đoạn mang tính thực chất hơn. Nhưng dưới ảnh hưởng của tư duy chiến lược đối địch truyền thống, Mỹ, Nhật Bản, Úc có ý đồ thông qua can thiệp vào việc ban hành các quy tắc, duy trì sự cân bằng ảnh hưởng ở Biển Đông, ngăn chặn cái gọi là Trung Quốc đơn phương giữ chủ đạo trật tự ở Biển Đông. Các học giả Nhật Bản đề xuất Nhật Bản, Mỹ, Úc và Ấn Độ nên khuyến khích việc ban hành các nguyên tắc chuẩn mực quốc tế có sức ràng buộc ở Biển Đông. Úc cũng cho rằng Trung Quốc đã dùng sức mạnh làm thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông, không tuân thủ luật pháp quốc tế, khiến họ không thể tin tưởng nên sẽ ủng hộ Mỹ tiếp tục giữ chủ đạo trật tự khu vực châu Á-Thái Bình Dương dựa trên các quy tắc. Xem xét tình hình hiện tại, các nước châu Âu như Anh và Pháp cũng giữ lập trường tương tự với Nhật Bản và Úc.

Từ kinh nghiệm thực tế quốc tế trong một thời gian dài cho thấy các quy tắc và cơ chế tự do, cởi mở, công bằng và hợp lý là sự lựa chọn khả thi để quy chuẩn hóa hành vi trên biển của các nước, giảm bớt tác động tiêu cực của địa chính trị đối với hợp tác quốc tế trên biển. Hiện nay, Trung Quốc và các nước ASEAN đang xuất phát từ những cân nhắc lâu dài để xây dựng trật tự khu vực dựa trên các quy tắc và cơ chế, thiết lập hệ thống quy tắc và cơ chế có hiệu quả cho hợp tác trên biển ở Biển Đông, cuối cùng có những đóng góp lớn cho việc xây dựng cộng đồng chung vận mệnh của nhân loại.

Tháng 8/2018, Trung Quốc và các nước ASEAN đã đạt được nhất trí về văn bản duy nhất đàm phán COC, điều này có nghĩa là các cuộc tham vấn để đi tới ký kết COC đã bước vào giai đoạn mang tính thực chất. Trong khi Trung Quốc và các nước ASEAN đẩy nhanh thực hiện 5 lĩnh vực hợp tác (nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ môi trường biển, an ninh giao thông trên biển, tìm kiếm cứu nạn trên biển, tấn công tội phạm xuyên quốc gia) trong khuôn khổ COC, các cuộc tham vấn COC sẽ coi việc thiết lập cơ chế hợp tác thiết thực ở Biển Đông một cách chi tiết và cụ thể hơn là chủ đề quan trọng. Trên thực tế, các cơ chế hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN trong việc cùng tìm kiếm cứu nạn, tấn công cướp biển cũng đảm bảo về mặt chế độ cho việc duy trì tự do và an ninh hàng hải cho các tuyến đường quốc tế. Vì vậy, cộng đồng quốc tế trong đó có Mỹ, Nhật Bản, Úc nên ủng hộ, chứ không nên gây phiền phức hoặc phá hoại.

Bài phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn tại Diễn đàn Chiến lược Biển Trung Quốc lần thứ ba tổ chức tại Đại học Phúc Đán (Thượng Hải) ngày 21/9/2018.

Người dịch: Hải Yến

Hiệu đính: Như Lý

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Hành vi và khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc đang khiến cả châu Á giận dữ. Qua nghiên cứu so sánh tư tưởng và ngoại giao, bài phân tích sẽ giúp hiểu được viễn cảnh hình thành khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc và ảnh hưởng của các chính sách hải quân của nước này đến các quốc gia khác trong việc sửa đổi hoặc hình thành các chiến lược biển mới.

Đọc tiếp...

Thực chất tình hình tại biển Đông

Thực chất tình hình tại biển Đông

Các vấn đề tại Biển Đông vốn đã xảy ra trong một khoảng thời gian dài, đặc biệt là giữa các bên có yêu sách ở khu vực này. Gần đây, những vấn đề trên trở nên phức tạp hơn do những tính toán chiến lược không chỉ của các bên có tranh chấp, mà còn của cả các nước lớn bên ngoài khu vực.

Đọc tiếp...

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), từ lâu được mô tả là mô hình thành công nhất của sự hội nhập khu vực trong thế giới hậu thực dân, đã ngày càng trở nên bất lực trong việc kiềm chế Trung Quốc làm xói mòn trật tự dựa trên quy tắc của khu vực vốn được định hướng bằng nguyên tắc không gây hấn, tránh xung đột và chủ nghĩa đa phương tự do.

Đọc tiếp...

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Hiện nay, không có thông tin công khai về việc Chính phủ Philippines chính thức yêu cầu Mỹ có một đánh giá hiệp ước chính thức. Người ta cho rằng một đánh giá chính thức sẽ vấp phải những khó khăn, trước hết là trong việc đạt được sự nhất trí về những sửa đổi đối với một hiệp ước có từ 7 thập kỷ trước và sau đó là trong việc phê chuẩn một hiệp ước đã sửa đổi ở cả 2 nước.

Đọc tiếp...

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Nếu không có một phản ứng cứng rắn từ phía cộng đồng quốc tế đối với các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính, các vụ việc tương tự sẽ còn lặp lại trong những năm tới, lý do đơn giản là Bắc Kinh rất hào hứng nhận ra rằng các hành động cưỡng ép của họ đã mang lại hiệu quả.

Đọc tiếp...

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Yêu cầu của EU đòi phải được thừa nhận là một bên tham gia về chính trị và an ninh ở châu Á không phải là mới. Tham vọng của họ có một ghế tại EAS và gần đây hơn là địa vị quan sát viên tại Nhóm chuyên gia ADMM+ là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận, xoay quanh đòi hỏi chính là thừa nhận giá trị thực tế của EU đối với an ninh khu vực. Bởi vậy, việc xem xét kỹ lưỡng các chính sách và hành động của EU ở Biển Đông là điều hợp lôgích.

Đọc tiếp...

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Việc kiểm soát Biển Đông có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bác bỏ hệ thống trật tự thế giới dựa trên các quy tắc, từ chối tuân thủ các chuẩn mực, kỳ vọng, và UNCLOS; đẩy người bảo vệ trật tự thế giới (Mỹ) khỏi Tây Thái Bình Dương, làm suy yếu hoặc phá hủy các đồng minh ở Tây Thái Bình Dương, khiến uy tín của Mỹ bị nghi ngờ ở phạm vi khu vực cũng như quốc tế và phá hủy cơ sở hạ tầng an ninh ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Để giành kiểm soát trên Biển Đông, đầu tiên, Trung Quốc cần phải cô lập khu vực. Trong nỗ lực cô lập khu vực, Trung Quốc sử dụng chiến lược hai hướng “cây gậy và củ cà rốt”, vừa lôi kéo các nước láng giềng khi thuận tiện trong khi đe dọa các nước chống đối mình.

Đọc tiếp...

Nhận diện mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Tại sao Trung Quốc lại tập trung vào Biển Đông đến như vậy và tại sao lại vào thời điểm này? Nghiên cứu cho thấy, một phần Trung Quốc được thúc đẩy bởi nhận thức về cơ hội, một phần vì nhận thức về sự suy yếu của Mỹ và một phần bởi nhu cầu lên tiếng về những tuyên bố pháp lý của nhà nước.

Đọc tiếp...

Phán quyết Biển Đông: Chúng ta nên hiểu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển như thế nào?

Phán quyết Biển Đông: Chúng ta nên hiểu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển như thế nào?

Người ta thường cho rằng cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định tại phần XV Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) được áp dụng rất hạn chế, phản ánh ý đồ của những người soạn thảo UNCLOS. Vì vậy, các tòa trọng tài cần diễn giải phần XV một cách thận trọng, lưu ý đến những giới hạn về thẩm quyền của toà. Tuy nhiên, Phán quyết Vụ kiện Biển Đông đã đi ngược lại với cách tiếp cận này.

Đọc tiếp...

Leo thang trên biển: Tình trạng ổn định và bất ổn định tại các vùng biển Đông Á

Leo thang trên biển: Tình trạng ổn định và bất ổn định tại các vùng biển Đông Á

Bài viết lập luận rằng các bất ổn cường độ thấp sẽ xảy ra trong tranh chấp biển hoặc cạnh tranh sức mạnh trên biển; tuy nhiên, ít có khả năng tạo ra chu kỳ leo thang kéo dài bởi đặc điểm của môi trường chiến lược biển khu vực.

Đọc tiếp...

Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông

Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông

Thời điểm hiện tại, tình hình Biển Đông đang đi vào thời điểm quan trọng khi những bước tiến của Trung Quốc đang tích tụ dần còn dư địa cho Mỹ hành động đang giảm đi, và các nhà quan sát tại khu vực thì đang tự hỏi liệu Mỹ đã sẵn sàng đối mặt với thách thức này hay chưa. Và Mỹ vẫn đang loay hoay đi tìm một chiến lược.

Đọc tiếp...

"Không độc chiếm" Biển Đông?

Dù có sự khác biệt giữa Vương quốc Trung Hoa và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nhưng Simon nhận thấy Trung Quốc vẫn giữ khuynh hướng sơ khởi đó là thưởng cho "những quốc gia sẵn sàng thừa nhận vị thế bá chủ khu vực của mình" trong khi phạt "những quốc gia từ chối tuân phục". Để thấy rõ nhất cách tiếp cận này của Trung Quốc, ta có thể nhìn ngay vào quan hệ của nước này tại Đông Nam Á trong năm 2018.

Đọc tiếp...

Vai trò các Chủ thể Doanh nghiệp trong Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Vai trò các Chủ thể Doanh nghiệp trong Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Bài viết phân tích 3 trường hợp nghiên cứu trong lĩnh vực - du lịch, khai thác năng lượng và cơ sở hạ tầng - từ đó nêu bật vai trò các chủ thể doanh nghiệp Trung Quốc đã làm thay đổi chính sách Biển Đông của Trung Quốc như thế nào.

Đọc tiếp...

Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh

Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh

Bài phân tích đánh giá việc Bắc Kinh xác định chiến lược biển của mình trong các tuyên bố công khai của lãnh đạo. Mục đích là nhằm hiểu được nhiều hơn về ý đồ và ưu tiên chiến lược của Trung Quốc trong lĩnh vực biển; đồng thời cung cấp cho giới hoạch định chính sách và các chuyên gia an ninh quốc gia vốn kiến thức cụ thể và đầy đủ nhất để đối trọng với Trung Quốc trong các vấn đề trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Các Động lực Thay đổi

Biển Đông: Các Động lực Thay đổi

Hành động của Trung Quốc tại Biển Đông khiến các nước trong khu vực cảnh giác. Thực tế này thúc đẩy Philippines kiện Trung Quốc. Vào năm 2016, tòa đã đưa ra phán quyết. Hành động và phản ứng của các bên liên quan tới phán quyết và các sự kiện chính trị khác đã khiến năm 2016 trở thành một năm đáng chú ý. Cuộc bầu cử Tổng thống ở Philippines và Mỹ cũng bổ sung những động lực khác khiến tình hình khu vực thay đổi.

 

Đọc tiếp...

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á

Bài viết so sánh chính sách đối ngoại của Trung Quốc và Mỹ, cụ thể là các hình thức hội nhập kinh tế và cách tiếp cận địa chính trị tại Đông Nam Á. Các tác giả so sánh động cơ và lý do các cường quốc lớn và hạng hai trong khu vực chấp nhận hoặc tranh cãi về các chính sách của Mỹ và Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Khảo cổ học và chủ nghĩa yêu nước: Chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Khảo cổ học và chủ nghĩa yêu nước: Chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Các ghi chép của Trung Quốc cho thấy chuyến thám hiểm chính thức đầu tiên của Trung Quốc tới Hoàng Sa vào năm 1902 chưa từng diễn ra. Thay vào đó, một cuộc thám hiểm bí mật được tiến hành nhiều thập kỷ sau đó để ngụy tạo bằng chứng khảo cổ học trên quần đảo Hoàng Sa nhằm củng cố yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Trung Quốc và ASEAN trên Biển Đông: Những cơ hội và nguy hiểm

Trung Quốc và ASEAN trên Biển Đông: Những cơ hội và nguy hiểm

Quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN về vấn đề Biển Đông dường như đang được cải thiện. Trong khu vực, người ta nói đến hợp tác kinh tế và khoa học, khai thác chung tài nguyên biển, bộ quy tắc ứng xử. Nhưng thực tế hoàn toàn khác và chúng ta không thể quên một điều cốt yếu: Sự mất cân xứng về công nghệ và quân sự, những cơ hội và nguy hiểm của việc khai thác chung... có lợi cho Bắc Kinh!

Đọc tiếp...

Cách thức đúng đắn để Mỹ đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Đông

Cách thức đúng đắn để Mỹ đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Đông

Một liên minh hiệu quả ở Biển Đông sẽ là thứ giúp bảo vệ các quyền lợi mà các nước Đông Nam Á được hưởng trong vùng biển của chính họ, đồng thời khiến Bắc Kinh phải đưa ra những nhượng bộ dài hạn hoặc phải trả một cái giá cắt cổ về ngoại giao và kinh tế. Nhưng để làm được điều đó, Washington cần đưa chính sự sáng tạo và tham vọng mà họ đã thể hiện ở biển Hoa Đông đến Biển Đông.

Đọc tiếp...

Hiểu và đánh bại cuộc nổi dậy trên biển của Trung Quốc ở Biển Đông

Hiểu và đánh bại cuộc nổi dậy trên biển của Trung Quốc ở Biển Đông

Để khôi phục được vị thế, Mỹ và các đồng minh của nước này cần phải điều chỉnh lại cách hiểu của họ về chiến dịch của Trung Quốc trên Biển Đông và định hướng lại chiến lược của Mỹ nhằm đánh bại nó.

Đọc tiếp...

Phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn: Những thách thức địa chính trị trên Biển Đông mà Trung Quốc đang phải đối mặt

Phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn: Những thách thức địa chính trị trên Biển Đông mà Trung Quốc đang phải đối mặt

Bài phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn nhận định tình hình Biển Đông mà ông đã nắm được qua cuộc trao đổi với chuyên gia, học giả các viện nghiên cứu chính sách nhân chuyến công tác tới Mỹ, Nhật Bản và Úc gần đây, đồng thời đưa ra một số phán đoán và phân tích về tình hình địa chính trị ở Biển Đông hiện nay.

Đọc tiếp...

Khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc – Philippines: Thách thức và triển vọng

Khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc – Philippines: Thách thức và triển vọng

Vài năm trở lại đây, vấn đề khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Philippines thu hút sự chú ý rất lớn từ các quốc gia trong và ngoài khu vực. Trên quan điểm của Trung Quốc, triển vọng khai thác chung giữa hai nước có khả thi? Cần phải giải quyết những thách thức nào để đi đến thỏa thuận khai thác trên thực tế?

Đọc tiếp...

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Trong vùng biển từng được cho là đã đạt được tiến bộ, một mặt trận đáng lo ngại đang hình thành: làn sóng ngầm liên kết tranh chấp ở Biển Đông với cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung.

Đọc tiếp...

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Việc thực thi hay chấp nhận Phán quyết là điều quan trọng để giải quyết tranh chấp, nhưng quan trọng hơn là các quốc gia và những nước phụ thuộc vào hoạt động giao thương trong khu vực phải tìm kiếm giải pháp hòa bình và thực dụng để cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan.

Đọc tiếp...

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Phân tích chuyên sâu cho thấy, hành động dân quân biển Trung Quốc “cấu thành” trách nhiệm pháp lý cho chính phủ Trung Quốc, đồng thời làm xói mòn các ngành luật chuyên biệt của luật pháp quốc tế. Phân tích cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể để đối phó với thách thức mà dân quân biển Trung Quốc đặt ra.

Đọc tiếp...

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Mặc dù Phán quyết của Toà tập trung chủ yếu vào việc làm rõ phạm vi các quyền lợi biển của Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông, tuy nhiên phần về hoạt động cải tạo và xây đảo của Trung Quốc cũng rất đáng chú ý. Với mục đích này, bài viết sẽ kiểm chứng những kết luận của Tòa về tính pháp lý trong hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng như những quy định pháp lý về những hoạt động này.

Đọc tiếp...

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck hoặc đi theo mô hình của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng.

Đọc tiếp...

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Các tác giả bài phân tích cho rằng việc làm sống lại lập luận về “cân bằng quyền lực liên kết” sẽ đưa ra những ý tưởng mới giúp luật quốc tế có thể phát huy khả năng của mình trong tranh chấp Biển Đông. Từ đó, bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu liên ngành giữa Luật quốc tế và Nghiên cứu chiến lược nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên biển Đông dựa trên các nguyên tắc pháp luật.

Đọc tiếp...

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

Bài viết đánh giá tổng quan về mối quan hệ hợp tác biển Trung Quốc ASEAN cũng như những động lực và tác động đằng sau những sáng kiến hợp tác giữa hai bên. Bên cạnh đó, bài viết đưa ra phương hướng và triển vọng để Biển Đông trở thành “vùng biển hợp tác”, góp phần duy trì hòa bình, ổn định khu vực.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 6999 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin