23 - 5 - 2012 | 2:45
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU VIỆT NAM Bàn tròn tranh luận: Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò

Bàn tròn tranh luận: Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò

Email In PDF.

Công hàm của Phi-líp-pin phản đối Đường lưỡi bò và công hàm phản hồi của Trung Quốc gửi Liên Hiệp Quốc trong tháng 4 năm 2011 liên quan đến Biển Đông đã thu hút sự quan tâm và chú ý của dư luận. NCBĐ mời các chuyên gia trong vấn đề Biển Đông tham gia tranh luận trực tuyến về cuộc chiến pháp lý mới này.  

 

Bàn tròn tranh luận:

Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò

 

(Xung quanh công hàm của Phi-líp-pin phản đối Đường lưỡi bò và công hàm phản hồi của Trung Quốc gửi Liên Hiệp Quốc trong tháng 4 năm 2011 liên quan đến Biển Đông)

Gần 2 năm sau khi Trung Quốc chính thức công bố tấm bản đồ 9 đường gián đoạn (còn được biết đến là bản đồ đường lưỡi bò) làm cơ sở cho yêu sách chủ quyền đối với gần như toàn bộ vùng Biển Đông, Phi-líp-pin mới chính thức phản ứng trước sự việc này. Trong một văn kiện đề ngày 05/04/2011 gửi đến Liên Hiệp Quốc, Manila đã bác bỏ giá trị của tấm bản đồ 9 đường gián đoạn đó.

Đáp lại Phi-líp-pin, Trung Quốc cũng lập tức gửi công hàm ngoại giao lên Liên Hiệp Quốc phản bác lập trường nói trên của Phi-li-pin, đồng thời tái khẳng định yêu sách chủ quyền 'không thể chối cãi' ở Biển Đông.  

Vấn đề này đã thu hút được sự quan tâm và chú ý của dư luận. NCBĐ mời các chuyên gia trong vấn đề Biển Đông tham gia tranh luận trực tuyến về cuộc chiến pháp lý mới này.  Tham gia thảo luận có PGS. TS. Nguyễn Hồng Thao (Đại học Quốc Gia Hà Nội), Th.S. Nguyễn Thị Thanh Hà (Chuyên gia pháp lý, đang làm việc tại NewYork, Mỹ), TS. Trần Trường Thủy (Học viện Ngoại  giao), anh Nguyễn Đăng Thắng (Nghiên cứu sinh Luật, Vương quốc Anh), anh Trần Văn Thùy (Nghiên cứu sinh, Khoa luật, Đại học Brussel, Bỉ), anh Vũ Hải Đăng (Nghiên cứu sinh Tiến sỹ Luật, Trường Luật Môi trường biển, Đạihọc Dalhousie, Canada).

Lưu ý: Đây là những suy nghĩ ban đầu và có tính chất cá nhân, có thể sẽ thay đổi nên đề nghị chỉ tham khảo mà không trích dẫn.

I. Liên quan đến nội dung công hàm của Phi-líp-pin

NCS. Nguyễn Đăng Thắng

Tôi đọc thấy  Công hàm này được giải thích trên trang Nghiên cứu Biển Đông là đưa đến 2 hệ quả: (i) ASEAN đồng loạt phản đối Đường lưỡi bò; (ii) Các đảo, đá tại Trường Sa chỉ có lãnh hải 12 hải lý, không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Về hệ quả thứ hai, cá nhân tôi hiểu khác một chút: Phi-líp-pin cho rằng một số các vị trí đảo nào trong "Miền đất tự do" của mình có thể có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa (điểm 2). Cách giải thích này có vẻ cũng phù  hợp với quan điểm của Phi-líp-pin trong Tuyên bố về đường cơ sở của Phi-líp-pin, theo đó quy chế đảo được áp dụng với phần quần đảo Trường Sa mà Phi-líp-pin yêu sách.  Với cách giải thích như vậy (cộng với một số các thuật ngữ pháp lý phức tạp hơn cần thiết), Phi-líp-pin bác bỏ "các vùng nước liên quan" trong Công hàm của Trung Quốc bên ngoài "miền đất tự do" (điểm 3), cho rằng chỉ có  Phi-líp-pin là quốc gia quần đảo ven bờ mới có thể yêu sách về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Hệ quả là các đảo bên ngoài "Miền đất tự do"  không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Lập luận này của  Phi-líp-pin dường như hơi "quá" và Phi-líp-pin đã áp dụng (hay đúng hơn là lợi dụng) học thuyết "đất thống trị biển" một cách không hoàn toàn phù  hợp (nếu không nói là không chính xác). Các vị trí đảo bên ngoài Miền đất tự do nếu đáp ứng tiêu chuẩn Điều 121 thì hoàn toàn có thể vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Trong phân định, có thể các đảo này không có giá trị đầy đủ hoặc không có giá trị khi so với bờ biển của các quốc gia khác nhưng chắc chắn không kém giá trị hơn các vị trí đảo trong Miền đất tự do của Phi-líp-pin.

Bổ sung thêm một ý nữa,  bỏ qua sự chính xác về mặt pháp lý, phải thừa nhận là trong lập luận của Phi-líp-pin trong công hàm là rất thống nhất và có lô-gíc của nó.

TS. Trần Trường Thủy

Theo tôi, về điểm 2 về việc Phi-líp-pin  không coi các vị trí của Trường Sa có vùng Đặc quyền kinh tế  và Thềm lục địa, nếu đọc kỹ công hàm của Phi-líp-pin có thể thấy:

- Điểm 1:  Phi-líp-pin khẳng định chủ quyền đối với các vị trí thuộc Kalayan;

- Điểm 2:  Phi-líp-pin coi vùng nuớc liền kề ("adjacent" waters) của các vị trí này thuộc Phi-líp-pin luôn theo nguyên tắc đất thống trị biển ("the land dominates the sea"), theo điều 121 UNCLOS, nhưng không chỉ rõ theo khoản 2, hay 3.

- Điểm 3: Các vùng nước, đáy biển liên quan ngoài vùng nước liền kề "adjacent" này không có cơ sở pháp lý, mà thuộc các quốc gia ven biển lục địa và quần đảo (Phi-líp-pin), theo các điều về lãnh hải, vùng Đặc quyền kinh tế, Thềm lục địa của UNCLOS.

Như vậy có hai khả năng xảy ra ở điểm 2 ở trên:

(i) khả năng thứ nhất như anh Thắng đã nêu, Phi-líp-pin vẫn coi các vị trí thuộc Kalayan có Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa, điều này dẫn đến các điểm mâu thuẫn mà anh Thắng cũng chỉ ra; ngoài ra không giải thích được điểm 3 là tại sao các vùng nước, đáy biển liên quan ngoài vùng nuớc liền kề này lại không có cơ sở pháp lý theo UNCLOS và tại sao ở điểm 3 lại phải chỉ ra từ "lãnh hải"  theo điều 3,4 UNCLOS ở đây, Đường lưỡi bò không chồng lấn đến lãnh hải các nước tính từ đường cơ sở;

(ii) khả năng hai logic hơn: Phi-líp-pin coi vùng nuớc liền kề  như "lãnh hải" (tương tự TQ đang dần dần coi), các vị trí của Kalayan và cả các vị trí khác thuộc Spratly có "lãnh hải", theo điều 121, khoản 3. Vùng ngoài các "lãnh hải" của Kalayaan này thuộc "lãnh hải" của các vị trí còn lại của Spratly, vùng Đặc quyền kinh tế, Thềm lục địa và Thềm lục địa kéo dài từ đường cơ sở các nước. Điều này cũng thống nhất với Công hàm Phi-líp-pin phản đối báo cáo của Việt Nam ở vùng phía bắc là vùng báo cáo thềm lục địa kéo dài của Việt Nam chồng lấn với của Phi-líp-pin (Thềm lục địa kéo dài từ đường cơ sở, chứ không phải từ các vị trí của Kalayan).

Th.S. Nguyễn Thị Thanh Hà

Cám ơn anh Thắng và anh Thủy đã đưa ra những nhận xét của mình để mọi người cùng suy nghĩ. Theo như tôi hiểu khi đọc công hàm của Phi-líp-pin thì Phi-líp-pin đồng thời thể hiện lập trường nguyên tắc, đồng thời dự trù cho khả năng giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với các đảo, đá, bãi thuộc Trường Sa. .

 - Về lập trường nguyên tắc, Phi-líp-pin khẳng định: (i) chủ quyền đối với Kalayaan Islands Group (KIG); (ii) quyền đối với các vùng nước lân cận các hình thái địa chất (geological features) của KIG xuất phát từ chủ quyền lãnh thổ và căn cứ theo qui định của Công ước Luật biển 1982; (iii) quyền đối với vùng biển và thềm lục địa tiếp giáp lãnh thổ quốc gia xác định theo qui định của Công ước Luật biển 1982 (đối với Phi-líp-pin thì căn cứ vào đường cơ sở quốc gia quần đảo; đối với quốc gia ven biển lục địa thì căn cứ vào đường cơ sở của lãnh thổ lục địa; và vì thế không có cơ sở cho Trung Quốc yêu sách đưa trên đường 9 đoạn). Lập trường nguyên tắc này không có gì mới.

- Điều mà Phi-líp-pin không nói rõ ràng mà tôi cho là họ dự trù cho khả năng phải thương  lượng với các nước tranh chấp khác để chia sẻ quyền sở hữu các đảo, đá, bãi nằm trong KIG, chính là cách họ lập luận trong điểm 2. Do vậy, họ không đánh đồng cách xác định vùng biển phụ cận các hình thái địa chất (features) trong quần đảo Trường Sa với cách xác định vùng biển của quốc gia quần đảo. Họ nhấn mạnh vùng biển phụ cận các hình thái địa chất trong quần đảo phải theo Công ước Luật biển, đặc biệt là điều 121 về quy chế đảo chứ không nói rõ chúng sẽ chỉ có lãnh hải, hay có thể có cả vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa riêng. Như vậy, có thể suy ra là các nước khác không thể dựa trên đòi hỏi chủ quyền đối với toàn thể quần đảo để yêu sách vùng biển theo cách khác; còn với Phi-líp-pin thì với lợi thế là một quốc gia quần đảo, khi xác định được chủ quyền đối với các đảo, đá, bãi nào thì họ sẽ xác định vùng biển các hình thái địa chất đó theo Công ước Luật biển rồi gộp chung vào vùng  biển quốc gia quần đảo và yêu sách các vùng biển kề cận theo quy chế quốc gia quần đảo.

Nhìn chung, trừ xung đột đương nhiên với Việt Nam liên quan đến chủ quyền đối với quần đảo, tôi thấy cách tiếp cận của Phi-líp-pin tương đồng với cách tiếp cận hiện nay của Việt Nam và các nước ASEAN khác. Tôi cho rằng, đây chính là cơ sở tốt cho các nước ASEAN phối hợp triển khai nhiều việc: DOC/COC, báo cáo chung về ranh giới thềm lục địa ngoài 200 hải lý.

NCS. Vũ Hải Đăng

Cách hiểu của tôi về điểm 3 của Công hàm hơi khác với ý kiến của chị Hà, anh Thắng và anh Thủy một chút. Theo tôi, Phi-líp-pin muốn tuyên bố 3 điều sau đây: (i) Yêu sách của Trung Quốc liên quan đến các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và vùng đất dưới đáy biển (relevant waters as well as the seabed and subsoil thereof)đối với các thực thể bên ngoài Kalayaan Islands Group là không có cơ sở pháp lý; (ii) Các thực thể của Kalayaan có thể có hoặc không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; (iii) cho dù các thực thể của Kalayaan có vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa hay không thì các vùng biển này vẫn nhất thiết thuộc về (necessarily belong to) Phi-líp-pin.

NCS. Trần Văn Thùy

Cám ơn các anh chị đã chia sẻ quan điểm của mình, về cơ bản, tôi đồng tình với các quan điểm. Đối với vấn đề này, tôi có mấy nhận xét sau:

1. Đây là phản ứng chính thức của Phi-líp-pin đối với yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông nói chung và bản đồ đường 9 đoạn nói riêng. Tuy nhiên, bản chất và nội dung của công hàm này theo tôi có một giới hạn chủ định của nó khi nói đến yêu sách của Trung Quốc, đặc biệt là với yêu sách bản đồ đường 9 đoạn. Như đã nói, Phi-líp-pin vừa mới phần nào lên tiếng phản đối bản đồ đó, thể hiện ở điểm 3 của công hàm về vùng nước liên quan đáy biển và tầng đất dưới đáy Biển Đông. Cùng lúc đó, Phi-líp-pin tận dụng cơ hội tái khẳng định yêu sách của mình đối với nhóm đảo Kalayaan và các vùng nước của nó. Để hiểu rõ hơn những ẩn ý trong công hàm này, chúng ta cần phải có sự giải thích rõ ràng của tác giả công hàm.

2. Đây dường như là động thái chính trị hơn là động thái pháp lý, ý của tôi là động thái này có thể xuất phát từ ý chí chính trị, có thể mới có cách đây không lâu, do vậy, thời điểm của bước đi này có thể cần được xem xét kỹ.

3. Về kỹ thuật mà nói, như một qui tắc trong công hàm, Phi-líp-pin lẽ ra cần phải thêm vào yêu cầu công hàm được lưu truyền cho các bên liên quan bao gồm các nước thành viên của Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển nắm 1982 (UNCLOS) nhưng công hàm lại không yêu cầu điều này. Điều này không biết là vô tình hay hữu ý? Thêm vào đó, nếu đem so sánh với công hàm của In-đô-nê-xi-a thì Phi-líp-pin nhắc đến cả 2 công hàm của Trung Quốc. Tuy nhiên, trong khi người Phi-líp-pin chỉ nói rõ rằng các vùng nước liên quan, đáy biển và vùng đất dưới đáy Biển Đông nêu trong điểm 3 của công hàm không có cơ sở trong Luật pháp quốc tế, nhất là trong UNCLOS, In-đô-nê-xi-a có quan điểm rằng: bản đồ đường 9 đoạn rõ ràng là thiếu cơ sở pháp lý quốc tế.

4. Về một trong những nhận xét trên trang Nghiên cứu Biển Đông, “Công hàm Phi-líp-pin phản đối lên Liên hợp quốc về Đường lưỡi bò của Trung Quốc: Hai hệ quả: i) ASEAN đồng loạt phản đối ĐLB; ii) Các đảo, đá tại Trường Sa chỉ có lãnh hải 12 hải lý, không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.”, tôi nghĩ là có thể vẫn còn quá sớm đề đi đến kết luận này. Bởi vì Bru-nây, một trong những bên liên quan vẫn còn im lặng về yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc;  quan điểm của Phi-líp-pin thể hiện trong công hàm nói trên không phải là đã đủ rõ ràng; và còn có nhiều điều cần phải tiếp tục làm rõ.

5. Tóm lại, dường như tất cả 4 quốc gia đã lên tiếng về bản đồ đường 9 lưỡi bò của Trung Quốc đều có xu hướng nhấn mạnh vào UNCLOS khi mà nhắc đến cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông.

NCS. Nguyễn Đăng Thắng

Phản hồi rất nhanh và quan điểm khác nhau của mọi người cho thấy rõ mức độ thú vị của công hàm Phi-líp-pin gửi là như thế nào. Rõ ràng chúng ta không phải người Phi-líp-pin và nếu tôi không nhầm thì mọi người cũng không học tiếng Anh ở Phi-líp-pin, thế nên việc giải thích công hàm của Phi-lí-pin theo cách khác nhau là hoàn toàn dễ hiểu vì người Phi-líp-pin vẫn nổi tiếng trong khu vực là dùng tiếng Anh phức tạp, chưa kể trong trường hợp này sự phức tạp còn được cố ý tăng lên.

Quan điểm của tôi cũng gần với quan điểm của chị Hà: (i) Thứ nhất, Kalayaan là một bộ phận của Phi-líp-pin, (ii) Thứ hai, vì KIG  thuộc Phi-líp-pin, theo học thuyết đất thống trị biển thì Phi-líp-pin có chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước xung quanh và bên cạnh mỗi vị trí địa lý có liên quan trong KIG như quy định của Công ước Luật Biển. Phạm vi của vùng nước bên cạnh là xác định (definite) và được xác định (determinable) theo Điều 121, (iii) Thứ ba, vì vùng nước bên cạnh những vị trí địa lý có liên quan xác định và phải tuân theo các tiêu chuẩn về pháp lý và kỹ thuật, yêu sách của TQ về "các vùng nước liên quan và đáy biển của chúng" nằm bên ngoài những vị trí địa lý có liên quan và vùng nước bên ngoài của chúng  không có cơ sở theo Luật pháp Quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển. Những vùng nước nằm bên ngoài này sẽ thuộc về quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo theo quy chế lãnh hải, vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa.

Cách hiểu của anh Thủy về điểm 2 cũng đưa đến cách giải thích lô-gích về điểm 3, tuy nhiên vẫn còn điểm về các vị trí bên ngoài Kalayaan hơi khó giải thích một chút. (Về điểm này một chút nữa tôi sẽ trình bày thêm). Tuy nhiên, tôi hiểu lô-gích trong Công hàm của Phi-líp-pin hơi khác một chút:  Lô-gích trong công hàm của Phi-líp-pin trước hết thể hiện ở việc Phi-líp-pin chỉ đả kích một phần đường 9 đoạn nằm bên ngoài vùng Kalayaan; vùng biển liên quan đến Kalayaan không có gì phải bàn cãi vì nó thuộc Phi-líp-pin. Yêu sách của Trung Quốc nằm bên ngoài vùng biển của Kalayaan không có cơ sở pháp lý theo Công ước Luật biển do Trung Quốc không phải là quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo ở khu vực này (mặt kia của học thuyết đất thống trị biển). Cũng vì lý do này, việc xác định vùng nước nào bên ngoài không quan trọng, chỉ cần biết vùng nước liên quan đến KIG là xác định (có nghĩa là không trùng với đường 9 đoạn của TQ). 

Đúng như anh Đăng đã nói, điểm 2 không nói rõ ràng về việc các vị trí đảo của KIG có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa không? Tuy nhiên, mọi người chú ý là Phi-líp-pin dùng các khái niệm khác nhau mỗi hình thái địa chất liên quan (each relevant geological feature) và các hình thái địa chất liên quan (the relevant geological features), vùng nước liền kề (adjacent waters) và vùng nước xung quanh ( waters around) và chỉ có vùng nước liền kề ( waters "adjacent"- nhấn mạnh của Phi-líp-pin) mới là xác định (definite)  và được xác định (determinable) theo điều 121. Như vậy, đường như Phi-líp-pin cũng để ngỏ khả năng có sự phân biệt giữa các vị trí và các vùng nước liên quan đến KIG. Và cuối cùng, nếu Phi-líp-pin chỉ coi các vị trí ở Trường Sa (kể cả trong KIG) chỉ có lãnh hải thì tại sao Phi-líp-pin lại phải chốt là 'phạm vi sẽ được xác định theo điều 121'?

Cũng như anh Đăng nói, Phi-líp-pin cũng rất "thông minh". "Thông minh hơn nữa" (và cái này cũng cho thấy lô-gich trong công hàm của Phi-líp-pin) đó là Phi-líp-pin tuyên bố rằng KIG là một bộ phận của Phi-líp-pin, ngụ ý là vẫn để ngỏ khả năng tính các vùng biển của Phi-líp-pin theo học thuyết đất thống trị biển từ một số vị trí trong KIG. Như chị Hà nói, theo cách này Phi-líp-pin  tận dụng được vị thế của mình là quốc gia quần đảo duy nhất trong tranh chấp và lại ở gần các vị trí đảo tranh chấp nhất. Đây cũng là cái 'hơi quá' của Phi-líp-pin trong việc vận dụng học thuyết đất thống trị biển. Như cách hiểu của Phi-líp-pin thì nội tại các đảo ở Trường Sa không thể có vùng đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa riêng, nhưng nếu chúng được gắn với quốc gia ven biển, trở thành một điểm trong đường cơ sở quần đảo thì lại khác. Việc này cũng sẽ cho Phi-líp-pin dư địa để sau này có thể điều chỉnh đường cơ sở quần đảo (vấn đề này thực ra khi Phi-líp-pin xây dựng dự luật về đường cơ sở mới cũng gây tranh cãi). 

Cách giải thích trên về công hàm của Phi-líp-pin cũng có một lô-gich nhất định trong nội tại của nó như tôi đã nhận xét trong phần trình bày trước. Tuy nhiên, cách giải thích này cho thấy Phi-líp-pin "hơi quá" trong yêu sách ở Biển Đông: cho rằng vùng biển bên ngoài vùng biển liên quan KIG  sẽ thuộc về quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo thôi. Giải thích như vậy cũng dẫn đến sự mâu thuẫn trong lập trường của Phi-líp-pin (mâu thuẫn này chỉ nảy sinh khi đi vào giải quyết thực tế) đó là một mặt Phi-líp-pin coi một số vị trí trong KIG (lưu ý là PLP dùng each relevant geological feature) có vùng liên quan (relevant waters), mặt khác lờ đi khả năng  các vị trí đảo bên ngoài KIG, trong đó đặc biệt có đảo Trường Sa lớn - đảo lớn thứ 2 ở quần đảo Trường Sa - cũng có vùng nước của mình.

Th.S. Nguyễn Thị Thanh Hà

Tôi muốn nói thêm một chút về bình luận của anh Thắng trong ý kiến mới nhất, liên quan đến đoạn cuối cùng khi nói về điểm 3 trong công hàm Phi-líp-pin.

Thứ nhất, tôi không cho là Phi-líp-pin tham khi nói các vùng biển và thềm lục địa ở Biển Đông ngoài KIG chỉ thuộc về các quốc gia ven biển và quốc gia quần đảo liên quan theo Công ước Luật biển 1982. Tôi thấy nói thế là chính xác. Liệu còn có cách xác định nào khác? Tất nhiên là không kể cách xác định vùng biển theo lịch sử như Trung Quốc.

Hai là Phi-líp-pin có lý khi chỉ bình luận về vùng biển lân cận các hình thái địa chất thuộc KIG. Sẽ không hợp lý khi Phi-líp-pin lại bình luận cả về vùng biển lân cận các hình thái địa chất nằm ngoài KIG trong đó có Trường Sa như anh Thắng nói, vì Phi-líp-pin muốn thể hiện rõ việc xác định vùng biển lân cận các vùng lãnh thổ của quốc gia khác sẽ do các quốc gia đó đảm nhiệm. Công hàm của Phi-líp-pin là văn kiện thể hiện lập trường chính thức của Nhà nước Phi-líp-pin, vì thế nó không thể đề cập đến các vấn đề theo cách bao quát như trong một tài liệu nghiên cứu của học giả được.

NCS. Nguyễn Đăng Thắng

Cám ơn chị Hà đã phản biện lại rất nhanh và có lý. Tuy nhiên, tôi nhìn nhận việc Phi-líp-pin "đòi hơi quá" không phải là việc Phi-líp-pin phân chia vùng biển ở Trường Sa cho các nước ven bờ mà là việc Phi-líp-pin "xây dựng" bờ biển của mình thế nào. Công hàm của Phi-líp-pin rõ ràng cho thấy và cũng như mọi người phân tích là để ngỏ khả năng Phi-líp-pin tận dụng vị trí địa lý thuận lợi của mình (và cũng có lúc là bất lợi nếu như vấn đề Trường Sa không được giải quyết) để vạch đường cơ sở quần đảo tối đa trong đó gộp cả vị trí các đảo trong quần đảo Trường Sa hoặc bãi Hoàng Nham. Như anh Thao đã phân tích, thực tế, nội bộ Phi-líp-pin cũng chưa thống nhất về vấn đề này khi xây dựng đường cơ sở quần đảo và giải pháp tạm thời đó là đưa KIG thành quy chế đảo (không thông qua dự luật dùng các vị trí trong KIG làm điểm cơ sở quần đảo). Chính vì lý do này, Công hàm của Phi-líp-pin vẫn "lập lờ" như vậy và để ngỏ khả năng điều chỉnh sau này. Tất nhiên, việc đưa ra một yêu sách như vậy là hoàn toàn dễ hiểu, khi đi vào đàm phán, phân định thực chất thì chắc chắn sẽ có sự thay đổi, nhượng bộ.

Chị Hà cũng đã chỉ ra rất chính xác là công hàm của Phi-líp-pin thể hiện lập trường của Phi-líp-pin nên không thể thể hiện các khả năng khác. Chính vì thế tôi cũng nói là chỉ khi đi vào đàm phán thực tế thì mới thấy sự mâu thuẫn đó là một mặt Phi-líp-pin coi các vị trí trong KIG có vùng nước lân cận còn Trường Sa của ta bị lờ đi.  Tạm thời hiện nay, nếu đọc riêng biệt, công hàm của Phi-líp-pin vẫn thể hiện một sự nhất quán và lô gich xuyên suốt.

Đọc phần tiếp theo "Phân tích Công hàm của Phi-líp-pin"

Nghiên cứu Biển Đông

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Học bổng hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông

Học bổng hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông

Học viện Ngoại giao thông báo triển khai Chương trình Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông trên toàn quốc. Dự kiến năm 2012 sẽ cấp 20 suất hỗ trợ (mỗi suất 10.000.000VNĐ) cho các nghiên cứu xuất sắc, góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo và thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Phân tích một số lập luận của Trung Quốc về “Chủ quyền lịch sử” của họ tại Biển Đông

Phân tích một số lập luận của Trung Quốc về “Chủ quyền lịch sử” của họ tại Biển Đông

Bài viết của PGS.TS Vũ Dương Huân phân tích bản chất các lập luận của Trung Quốc về cái gọi là "chủ quyền lịch sử”của họ đối với Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển nằm trong đường lưỡi bò.

Đọc tiếp...

Thực trạng xây dựng thể chế khu vực bảo vệ môi trường biển tại Biển Đông

Thực trạng xây dựng thể chế khu vực bảo vệ môi trường biển tại Biển Đông

Bài viết của NCS. Vũ Hải Đăng và TS. Nguyễn Chu Hồi đánh giá về việc xây dựng thể chế liên quan đến những cơ chế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển tại Biển Đông. Phân tích cho thấy kết quả khá thất vọng trong quá trình xây dựng thể chế bảo vệ môi trường biển tại Biển Đông và khu vực vẫn còn một quãng đường dài trong vấn đề này. 

Đọc tiếp...

Chính sách Biển Đông của Việt Nam và Trung Quốc

Chính sách Biển Đông của Việt Nam và Trung Quốc

Phỏng vấn của BBC với Tiến sĩ Trần Trường Thủy, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông, Nhà nghiên cứu duy nhất của Việt Nam tại hội thảo Biển Đông ở Manila ngày 16-17/10, về những thay đổi gần đây trong chính sách Biển Đông của Trung Quốc và Việt Nam.   

Đọc tiếp...

Hiện trạng mô hình hợp tác quốc tế về bảo tồn thiên nhiên tại các vùng biển cận biên và một số gợi ý ban đầu cho Việt Nam

Hiện trạng mô hình hợp tác quốc tế về bảo tồn thiên nhiên tại các vùng biển cận biên và một số gợi ý ban đầu cho Việt Nam

Bài viết của TS. Dư Văn Toán, Viện Nghiên cứu Quản lý biển và hải đảo, giới thiệu tổng quan các mô hình hợp tác quốc tế (HTQT) về các khu bảo tồn biển đa quốc gia trên thế giới. Từ việc phân tích những lợi ích của mô hình này, bài viết đề xuất phân chia khu vực biển Việt Nam thành bốn vùng: vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan, Hoàng Sa, Trường Sa và mô hình HTQT phù hợp qua đó đề xuất xây dựng khu vực Trường Sa thành Công viên biển hòa bình quốc tế. Đọc tiếp...

Tình huống chiến lược Biển Đông

Tình huống chiến lược Biển Đông

Bài viết của TS. Đặng Xuân Thanh*, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, phân tích cấu trúc tình huống chiến lược tại Biển Đông, từ đó đưa ra dự báo ngắn hạn và triển vọng dài hạn cho cục diện tình hình ở vùng biển phức tạp này.

Đọc tiếp...

Từ DOC qua Hướng dẫn thực hiện tới COC trên Biển Đông

Từ DOC qua Hướng dẫn thực hiện tới COC trên Biển Đông

Ngày 21 tháng 7 năm 2011, tại Bali – Indonesia, ASEAN và Trung Quốc đã đạt được Bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC sau 9 năm đàm phán. Văn bản này được xem là bước tiến trong tiến trình quản lý tranh chấp, tuy nhiều ý kiến bình luận hoài nghi về khả năng kiềm chế các căng thẳng trên Biển Đông. NCBĐ xin giới thiệu bài viết của nhà nghiên cứu Việt Long về quá trình đi từ DOC đến Bản Quy tắc hướng dẫn, từ đó gợi mở các hướng về COC trong tương lai.

Đọc tiếp...

Phi-líp-pin định kiện Trung Quốc về điều gì ở Tòa trọng tài thành lập theo Công ước Luật biển? Và làm sao họ làm được như vậy?

Phi-líp-pin định kiện Trung Quốc về điều gì ở Tòa trọng tài thành lập theo Công ước Luật biển? Và làm sao họ làm được như vậy?

Bài viết của Nguyễn Đăng Thắng*, Nghiên cứu sinh luật tại Anh, phân tích những cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước luật biển, mối quan tâm chính trong tranh chấp tại Biển Đông của Phi-lip-pin, từ đó đưa ra những đánh giá triển vọng về việc nước này kiện (nếu có) Trung Quốc, những suy ngẫm và có thể là bài học để Việt Nam tham khảo và xem xét.

Đọc tiếp...

"Thỏa thuận chung” về vấn đề Biển Đông

Trả lời phỏng vấn của đài ABC của Úc trong bài "Thỏa thuận chung” về vấn đề Biển Đông, TS. Trần Trường Thủy, GĐ Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông, cho biết quan điểm của ông về một số vấn đề nhiều người quan tâm hiện nay như chuyến đi Trung Quốc của Thứ trưởng NG Hồ Xuân Sơn, các thỏa thuận về quản lý Biển Đông như DOC, Bản hướng dẫn thực thi DOC, và mong đợi của Việt Nam tại Hội nghị Bali.

Đọc tiếp...

Vụ tàu Bình Minh 02 - một Vụ CGX trên Biển Đông?

Vụ tàu Bình Minh 02 - một Vụ CGX trên Biển Đông?

Vụ việc tàu hải giám của Trung Quốc ngang nhiên cắt cáp thăm dò của tàu địa chấn Bình Minh 02 thuộc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam đang được dư luận hết sức quan tâm.  NCBĐ giới thiệu bài bình luận nóng của tác giả Nguyễn Đăng Thắng, dựa trên Công ước luật  biển 1982 và các tiền lệ án quốc tế, phân tích tính phi lý trong hành động của phía Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Phản ứng của các nước và cục diện an ninh mới ở Biển Đông (phần cuối)

Phản ứng của các nước và cục diện an ninh mới ở Biển Đông (phần cuối)

Sau những chính sách và hành động của Trung Quốc đối với Biển Đông kể từ 2007, vấn đề Biển Đông càng được thu hút bởi dư luận thế giới đặc biệt là Mỹ. Do đó sự căng thẳng của vấn đề Biển Đông cần được xem xét trong tổng thể lợi ích và các mối quan tâm của các nước có liên quan, trước hết là các nước trong khu vực, Trung Quốc và Mỹ.

Đọc tiếp...

Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông

Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông

Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông đã có những thay đổi rõ rệt. Điều này dựa trên mối liên hệ giữa chính sách Biển Đông của Trung Quốc với những diễn biến mới trong bối cảnh quốc tế, chính trị nội bộ của Trung Quốc, đặc biệt là gắn nó với chiến lược an ninh - đối ngoại của Bắc Kinh hiện nay. Do đó chiến lược giấu mình chờ thời hay “ ngoại giao hài hòanhường chỗ cho chiến lược an ninh và đối ngoại mang tính khẳng định hơn, chủ động và hiếu chiến hơn nhằm gây sức ép với các nước tranh chấp trong khu vực.

Đọc tiếp...

Bàn tròn tranh luận: Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò (phần cuối)

Bàn tròn tranh luận: Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò (phần cuối)

Một ngày sau khi có tin Phi-líp-pin gửi thư lên Liên Hiệp Quốc để phản đối yêu sách đường chín đoạn của Trung Quốc, Bắc Kinh lên tiếng nói điều này “không thể chấp nhận được”. Đáp lại công hàm của Phi-líp-pin, Trung Quốc cũng lập tức gửi công hàm ngoại giao lên Liên Hiệp Quốc khẳng định chủ quyền 'không thể chối cãi' ở Biển Đông. Về nội dung công hàm này, các chuyên gia có khá  nhiều ý kiến bình luận xung quanh cách giải thích, ngôn từ cũng như  ý đồ của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Bàn tròn tranh luận: Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò (tiếp theo)

Bàn tròn tranh luận: Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò (tiếp theo)

Trả lời câu hỏi tại sao Phi-líp-pin lại lên tiếng vào thời điểm này và với công hàm này, tiến trình giải quyết hòa bình các tranh chấp tại Biển Đông liệu sẽ được thúc đẩy hay không, PGS. Nguyễn Hồng Thao đã có bài bình luận toàn diện và chi tiết.

Đọc tiếp...

Bàn tròn tranh luận: Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò

Bàn tròn tranh luận: Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò

Công hàm của Phi-líp-pin phản đối Đường lưỡi bò và công hàm phản hồi của Trung Quốc gửi Liên Hiệp Quốc trong tháng 4 năm 2011 liên quan đến Biển Đông đã thu hút sự quan tâm và chú ý của dư luận. NCBĐ mời các chuyên gia trong vấn đề Biển Đông tham gia tranh luận trực tuyến về cuộc chiến pháp lý mới này.  

Đọc tiếp...

Đằng sau những thay đổi trong cách tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông

Đằng sau những thay đổi trong cách tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông

Ở phần này bài viết sẽ đi vào phân tích đánh giá những tác nhân đằng sau những thay đổi trong các tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông kể từ năm 2007 đến nay. Bài viết đánh giá việc Trung Quốc duy trì chính sách mập mờ về “lợi ích cốt lõi” của mình đối với Biển Đông là để nhằm tránh việc đa phương hóa vấn đề tranh chấp Biển Đông nhằm hạn chế sự can thiệp của quốc tế đặc biệt là Mỹ, và hơn nữa là nhằm tạo điều kiện có lợi cho mình trong việc sử dụng “sức mạnh mềm” trong giải quyết tranh chấp với các nước trong khu vực này.

Đọc tiếp...

Nhìn lại chính sách của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông từ 2007 đến nay

Nhìn lại chính sách của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông từ 2007 đến nay

Bài viết của hai tác giả Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh*, Chương trình Nghiên cứu Biển Đông  đánh giá những thay đổi về chính sách của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông từ năm 2007 đến nay, giải mã những căng thẳng ở khu vực Biển Đông nhìn từ khía cạnh chính sách và động thái của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Sống chung với nước láng giềng lớn hơn: Thực tiễn và chính sách

Sống chung với nước láng giềng lớn hơn: Thực tiễn và chính sách

Đề cập đến mối quan hệ nước lớn - nước nhỏ trong quan hệ quốc tế, PGS.TS Nguyên Vũ Tùng cho rằng "Đối với nước nhỏ, quan hệ với nước lớn chung biên giới luôn là một mối quan hệ khó khăn". Bài nghiên cứu nêu lên nguồn gốc của những khó khăn trong mối quan hệ này, từ đó đưa ra một số khuyến nghị về chính sách đối ngoại của các nước nhỏ đối với nước lớn láng giềng.

Đọc tiếp...

Những chủ thể và tư duy đối ngoại mới ở Trung Quốc: Hệ lụy đối với chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông

Những chủ thể và tư duy đối ngoại mới ở Trung Quốc: Hệ lụy đối với chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông

Bài viết tổng hợp phân tích về các nhóm lợi ích và ảnh hưởng của các nhóm này đối với  quá trình hoặc định chính sách đối  ngoại của Trung Quốc. Qua đó, tác giả rút ra các hệ lụy đối với chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông.

Đọc tiếp...

Nguyễn Nam Dương, Dư âm ARF và quan hệ ASEAN - Trung Quốc trên biển Đông

Nguyễn Nam Dương, Dư âm ARF và quan hệ ASEAN - Trung Quốc trên biển Đông

Diễn đàn An ninh khu vực ARF khép lại hồi tháng 7 nhưng dư âm của nó còn kéo dài, làm nóng các trang báo ở các quốc gia liên quan, nhất là xoay quanh vấn đề Biển Đông, và trục quan hệ ASEAN - Trung Quốc - Mỹ.
Đọc tiếp...

Hoàng Việt, PHÂN TÍCH CÁC YÊU SÁCH VỀ "ĐƯỜNG LƯỠI BÒ" THEO LUẬT QUỐC TẾ

Hoàng Việt, PHÂN TÍCH CÁC YÊU SÁCH VỀ
I.                  Đặt vấn đề

Cuộc tranh chấp biển Đông vẫn đang là một “nguy cơ” gây bất ổn trong khu vực. Tranh chấp biển Đông đã trở thành một trong những cuộc tranh chấp phức tạp bậc nhất trên thế giới. Sự phức tạp của tranh chấp biển Đông đến từ các yêu sách phức tạp về chủ quyền của nhiều quốc gia đối với các khu vực chồng lấn, vả lại, nó không chỉ đơn thuần là tranh chấp về mặt luật pháp quốc tế về biên giới biển, lãnh thổ trên biển mà hơn thế nữa nó còn được đan xen với những lợi ích về địa – chính trị, về kiểm soát con đường vận tải biển chiến lược, và về khai thác các nguồn tài nguyên biển, đặc biệt là dầu mỏ.

Đọc tiếp...

Nguyễn Quang Ngọc, ĐỊA DANH TRUNG QUỐC CÁC QUẦN ĐẢO GIỮA BIỂN ĐÔNG: LỊCH SỬ MỘT THẾ KỶ CHUYỂN ĐỔI

I.    Về một số địa danh cổ

Sách báo Trung Quốc gần đây thường viện dẫn các địa danh như Trướng Hải, Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường, Thạch Đường, Cửu Nhũ Loa Châu, Thất Châu Dương... làm minh chứng cho chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo giữa Biển Đông đã có từ hàng nghìn năm trước. Các địa danh Trướng Hải, Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường, Thạch Đường, Cửu Nhũ Loa Châu thật ra chỉ là những địa danh phiếm chỉ một vùng biển đảo nguy hiểm, hư hư, ảo ảo nằm ngoài đảo Hải Nam và đương nhiên là không thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Riêng Thất Châu Dương là vùng biển đảo có thật, được ghi chép rất rõ ràng trong thư tịch và bản đồ cổ Trung Quốc, gần huyện Văn Xương của đảo Hải Nam, thì lại bị người ta cố tình mơ hồ hoá, huyền thoại hoá và đẩy nó ra tận giữa Biển Đông!.

Đọc tiếp...

Nguyễn Hồng Thao, YÊU SÁCH “ĐƯỜNG ĐỨT KHÚC 9 ĐOẠN” CỦA TRUNG QUỐC DƯỚI GÓC ĐỘ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ

Nguyễn Hồng Thao, YÊU SÁCH “ĐƯỜNG ĐỨT KHÚC 9 ĐOẠN” CỦA TRUNG QUỐC DƯỚI GÓC ĐỘ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ

Đối với những người Trung Quốc đang muốn đất nước mình là một thành viên đáng tin cậy của cộng đồng quốc tế, của Công ước về Luật biển 1982 thì việc từ bỏ "đường đứt khúc 9 đoạn" sẽ khắc phục được tình trạng mập mờ cản trở thực tiễn, tạo niềm tin với các nước hữu quan, làm cho các cuộc đàm phán phân định biển trong khu vực trở nên khách quan hơn, thúc đẩy hợp tác và phát triển.

Đọc tiếp...

Nguyễn Bá Diến, ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN TẮC VỀ THỤ ĐẮC LÃNH THỔ TRONG LUẬT QUỐC TẾ GIẢI QUYẾT HÒA BÌNH CÁC TRANH CHẤP Ở BIỂN ĐÔNG

“…Pháp luật quốc tế ghi nhận một trong những cơ sở nền tảng (nguyên tắc cơ bản) để xác lập hợp pháp danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia là:  việc xác lập chủ quyền phải dựa vào các phương thức thụ đắc lãnh thổ hợp pháp. Một phương thức thụ đắc lãnh thổ được coi là hợp pháp khi nó được tiến hành trên một đối tượng lãnh thổ phù hợp (đối tượng thụ đắc của phương thức chiếm cứ hữu hiệu là lãnh thổ vô chủ hoặc lãnh thổ bị bỏ rơi). Chủ thể xác lập danh nghĩa chủ quyền phải có tư cách quốc gia và được thực hiện theo đúng cách thức mà luật quốc tế về thụ đắc lãnh thổ đòi hỏi…”

Đọc tiếp...

Tôn Sinh Thành, QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÔNG TÁC BIÊN GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

Tôn Sinh Thành, QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÔNG TÁC BIÊN GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

 Bài viết này sẽ xem xét mối quan hệ biện chứng giữa biên giới và kinh tế. Trước hết, bài viết sẽ mổ xẻ những nội hàm kinh tế của khái niệm biên giới, khu vực biên giới, sau đó sẽ phân tích ý nghĩa kinh tế của công tác biên giới từ giai đoạn hoạch định biên giới tới quản lý biên giới. Bài viết cũng sẽ xem xét công tác biên giới trong mối quan hệ biện chứng giữa an ninh và phát triển đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa. 

Đọc tiếp...

Trần Thanh Tùng, CHÍNH TRỊ NỘI BỘ PHI-LÍP-PIN VỚI TRANH CHẤP TRƯỜNG SA

Bài viết tập trung phân tích những tác động của chính trị nội bộ đến việc hoạch định chính sách của Phi-líp-pin trong tranh chấp Trường Sa - là nơi Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Hai trường hợp nghiên cứu tình huống là Thỏa thuận thăm dò địa chấn chung giữa Việt Nam - Trung Quốc - Phi-líp-pin năm 2004/2005 và Luật đường cơ sở của Phi-líp-pin năm 2009.

Đọc tiếp...

Phạm Thùy Trang, LỢI ÍCH CỦA MỸ Ở BIỂN ĐÔNG

Phạm Thùy Trang, LỢI ÍCH CỦA MỸ Ở BIỂN ĐÔNG Các giới ở Mỹ gần đây cho là lợi ích của Mỹ bị đe dọa do tranh chấp biển Đông leo thang đồng thời quan tâm hơn tới sự cải thiện lực lượng hải quân của Trung Quốc trong khu vực.  Do đó, đã có ý kiến cho rằng chính sách “không can dự” của Mỹ không còn hoàn toàn bảo vệ lợi ích của Mỹ tại biển Đông, Mỹ cần dính líu hơn vào khu vực này. Mỹ dường như đang thay đổi từ “không can dự” tới “can dự một phần” trong chính sách đối ngoại với các nước ven biển và ASEAN tại biển Đông.
Đọc tiếp...

Nguyễn Minh Ngọc, QUAN HỆ VIỆT NAM - CAMPUCHIA VÀ VẤN ĐỀ PHÂN ĐỊNH BIÊN GIỚI BIỂN TẠI VỊNH THÁI LAN

Nguyễn Minh Ngọc, QUAN HỆ VIỆT NAM - CAMPUCHIA VÀ VẤN ĐỀ PHÂN ĐỊNH BIÊN GIỚI BIỂN TẠI VỊNH THÁI LAN

Phân định biển Việt Nam - Campuchia là một quá trình khó khăn và lâu dài do nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, hai bên có lập trường rất khác biệt về đường biên giới biển. Thứ hai, việc phân định biên giới giữa Việt Nam và Campuchia (cả trên bộ lẫn trên biển) phụ thuộc rất nhiều vào tình hình chính trị nội bộ của Campuchia và tình hình quan hệ giữa hai nước. Thứ ba, phía Campuchia muốn hoàn tất công tác phân giới cắm mốc biên giới trên bộ với Việt Nam, sau đó mới tính đến việc giải quyết biên giới biển.

Đọc tiếp...

BIỂN ĐÔNG: TÌM KIẾM MỘT DÀN XẾP PHÁP LÝ MỚI NHẰM TĂNG CƯỜNG ỔN ĐỊNH, HÒA BÌNH VÀ HỢP TÁC

BIỂN ĐÔNG: TÌM KIẾM MỘT DÀN XẾP PHÁP LÝ MỚI  NHẰM TĂNG CƯỜNG ỔN ĐỊNH, HÒA BÌNH VÀ HỢP TÁC (Nguyễn Hồng Thao & Ramses Amer)  Biển Đông từ lâu được xem là một trong những nguồn gốc chính của căng thẳng và bất ổn định trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.Có nhiều nhân tố dẫn đến thực trạng đó. Thứ nhất, vị trí địa chiến lược của biển Đông. Nhân tố nữa là những tranh chấp lãnh thổ đối với  quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cũng như  đối với các khu vực hàng hải tại biển Đông. Nhân tố thứ ba là cuộc chạy đua giành quyền kiểm soát các tài nguyên thiên nhiên tại khu vực này. Nhân tố thứ tư là sự phát triển của Luật Biển. Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

         

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 4963 khách và 1 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập



Bản đồ - Hình ảnh

HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN 3