1 - 5 - 2016 | 7:48
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU VIỆT NAM Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982: Cơ sở pháp lý quốc tế để bảo vệ quyền lợi của Việt Nam trên Biển Đông

Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982: Cơ sở pháp lý quốc tế để bảo vệ quyền lợi của Việt Nam trên Biển Đông

Email In PDF.

Công ước Luật biển 1982 là hiến pháp của biển, là cơ sở pháp lý chung cho việc giải quyết các tranh chấp biển, trong đó có phân định vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các nước xung quanh Biển Đông. Bài viết nhân kỷ niệm 30 năm ngày ký kết và nhân ngày Viêt Nam thông qua Luật biển.

 

Sau hơn 4 năm chuẩn bị  và 9 năm đàm phán, ngày 10/12/1982, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước Luật biển 1982), tên tiếng Anh là United Nations Convention on the Law of the Sea, hay thường được gọi tắt là UNCLOS 1982, được 107 quốc gia, trong đó có Việt Nam, ký tại Montego Bay, Jamaica (tính đến nay, số quốc gia ký là 157), đánh dấu thành công của Hội nghị LHQ về Luật biển lần thứ 3, với sự tham gia của trên 150 quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế, kể cả các tổ chức quốc tế phi chính phủ, cùng xây dựng nên một Công ước mới về Luật biển, được nhiều quốc gia, kể cả những quốc gia không có biển, cùng chấp nhận.

Sau Hiến chương LHQ, Công ước Luật biển 1982 được đánh giá là văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, được nhiều quốc gia ký kết và tham gia. Công ước Luật biển 1982 có hiệu lực từ ngày 16/11/1994 (12 tháng kể từ ngày Guyana, nước thứ 60 phê chuẩn Công ước ngày 16/11/1993). Là một văn kiện pháp lý đa phương đồ sộ, bao gồm 320 điều khoản và 9 Phụ lục, với hơn 1000 quy phạm pháp luật, Công ước Luật biển 1982 đã đáp ứng nguyện vọng và mong đợi của cộng đồng quốc tế về một trật tự pháp lý quốc tế mới đối với tất cả các vấn đề về biển và đại dương, bao gồm cả đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.

Công ước Luật biển 1982 thực sự là một bản hiến pháp về biển của cộng đồng quốc tế bởi Công ước không chỉ bao gồm các điều khoản mang tính điều ước mà còn là văn bản pháp điển hoá các quy định mang tính tập quán. Công ước Luật biển 1982 thể hiện sự thoả hiệp mang tính toàn cầu, có tính đến lợi ích của tất cả các nước trên thế giới, dù là nước công nghiệp phát triển hay là nước đang phát triển… Công ước không chấp nhận bảo lưu mà đòi hỏi các quốc gia phải tham gia cả gói (package deal), có nghĩa là việc phê chuẩn hoặc tham gia Công ước đòi hỏi quốc gia phải có trách nhiệm thực hiện toàn bộ các điều khoản của Công ước.

Công ước Luật biển 1982 đã trù định toàn bộ các quy định liên quan đến các vùng biển mà một quốc gia ven biển có quyền được hưởng, cũng như những quy định liên quan đến việc sử dụng, khai thác biển và đại dương, cụ thể là: Quy chế pháp lý của tất cả các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia; Chế độ pháp lý đối với biển cả và Vùng - di sản chung của loài người; các quy định hàng hải và hàng không; việc sử dụng và quản lý tài nguyên biển bao gồm tài nguyên sinh vật và không sinh vật; Vấn đề bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, an ninh trật tự trên biển; việc giải quyết tranh chấp và hợp tác quốc tế về biển; Quy chế hoạt động của cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương, Uỷ ban ranh giới ngoài thềm lục địa, toà án Luật biển quốc tế, hội nghị các quốc gia thành viên Công ước …

Tính đến ngày 3/6/2011, đã có 162 nước phê chuẩn và tham gia Công ước Luật biển 1982 (Thái lan là quốc gia thứ 162 gia nhập ngày 15/5/2011).

Một số nội dung quan trọng đã được quy định trong Công ước Luật biển 1982 như dưới đây:

1. Quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền đầy đủ đối với vùng lãnh hải mà họ có quyền thiết lập với chiều rộng không quá 12 hải lý. Tuy vậy, chủ quyền  này không phải là tuyệt đối vì tầu thuyền nước ngoài được phép “đi qua vô hại” trong vùng lãnh hải. Tầu thuyền và máy bay được phép “đi quá cảnh” qua các dải hẹp, eo biển được sử dụng cho hàng hải quốc tế.

2. Ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (ĐQKT) và thềm lục địa được xác định dựa trên các quy tắc áp dụng cho lãnh thổ đất liền, nhưng đối với đá không thể có con người sinh sống hoặc không có đời sống kinh tế sẽ không có vùng ĐQKT hoặc thềm lục địa. Quốc gia có biên giới với eo biển có thể điều tiết lưu thông hàng hải và các khía cạnh khác liên quan đến đi lại, lưu thông..

3. Quốc gia quần đảo, được tạo thành bởi nhóm hoặc các nhóm đảo liên quan gần gũi và những vùng nước tiếp liền, sẽ có chủ quyền đối với vùng biển nằm trong các đường thẳng được vẽ bởi các điểm xa nhất của các đảo, vùng nước bên trong các đảo được gọi là vùng nước quần đảo, và các quốc gia này có thể thiết lập các đường đi lại cho tầu thuyền và hàng không, trong đó các quốc gia khác có thể được hưởng quyền qua lại các quần đảo bằng các tuyến đường biển đã định.

4. Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với vùng ĐQKT rộng tối đa 200 hải lý, đối với tài nguyên thiên nhiên và một số hoạt động kinh tế, và thực hiện quyền tài phán đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường. Các quốc gia khác có quyền tự do hàng hải và tự do hàng không và tự do đặt dây cáp ngầm và đường ống.

 5. Quốc gia không có biển hoặc bất lợi về địa lý có quyền tham gia trên cơ sở công bằng trong việc khai thác một phần thích hợp trong số phần dư dôi của các tài nguyên sống trong vùng ĐQKT của quốc gia ven biển trong cùng khu vực hoặc tiểu khu vực; các loài di cư như cá hoặc sinh vật biển được bảo vệ đặc biệt.

 6. Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với thềm lục địa (khu vực đáy biển của quốc gia) trong việc việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa. Thềm lục địa có thể kéo dài ít nhất là 200 hải lý từ bờ biển, và có thể  kéo dài không quá 350 hải lý trong những điều kiện cụ thể. Quốc gia ven biển chia sẻ với cộng đồng quốc tế phần lợi tức thu được do khai thác tài nguyên từ bất cứ khu vực nào trong thềm lục địa của quốc gia đó khi nó kéo dài quá 200 hải lý. Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa (được thành lập theo Phụ lục II trong Công ước Luật biển 1982) sẽ có ý kiến đối với quốc gia liên quan về ranh giới ngoài của thềm lục địa khi nó kéo dài quá 200 hải lý.

 7. Tất cả các quốc gia đều có quyền tự do truyền thống về hàng hải, bay qua, nghiên cứu khoa học và đánh cá trên vùng biển quốc tế. Các quốc gia có trách nhiệm hợp tác với nhau trong việc thông qua các biện pháp để quản lý và bảo tồn các tài nguyên sống trên biển.

  8. Các quốc gia có chung biên giới với biển kín hoặc nửa kín cần hợp tác với nhau trong việc quản lý tài nguyên sống, có chính sách và hoạt động về môi trường cũng như nghiên cứu khoa học. Các quốc gia không có biển có quyền tiếp cận với biển và được tự do quá cảnh thông qua nước quá cảnh để ra biển. Các quốc gia phải ngăn chặn và kiểm soát ô nhiểm môi trường biển và phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra do sự vi phạm nghĩa vụ quốc tế của mình để kiềm chế những sự ô nhiễm đó.

 9. Tất cả các nghiên cứu khoa học trong vùng ĐQKT và thềm lục địa phải có sự đồng ý của quốc gia ven biển. Tuy vậy, hầu như trong tất cả mọi trường hợp, quốc gia ven biển có trách nhiệm đồng ý với đề nghị của các quốc gia khác khi việc nghiên cứu được tiến hành vì mục đích hoà bình và đã thực hiện một số yêu cầu chi tiết. Các quốc gia cam kết tăng cường phát triển và chuyển giao kỹ thuật biển trong những điều kiện “ công bằng và hợp lý” có tính đến đầy đủ những lợi ích hợp pháp.

10. Các quốc gia thành viên phải giải quyết bằng biện pháp hoà bình các tranh chấp liên quan đến việc hiểu và áp dụng Công ước. Các tranh chấp cần được trình lên Toà án quốc tế về luật biển ( được thành lập theo Công ước), trình lên Toà án công lý quốc tế hoặc trọng tài. Toà án có quyền tài phán riêng biệt đối với những tranh chấp liên quan đến khai thác ở đáy biển.

Sau khi Công ước Luật biển 1982 ra đời và có hiệu lực, các quốc gia ven biển đã ra các tuyên bố để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình đối với những vùng biển được mở rộng theo quy định của Công ước. Quy chế pháp lý đối với lãnh hải đã trở thành biện pháp giải toả cho các yêu sách xung đột giữa các quốc gia với nhau. Lưu thông hàng hải qua vùng lãnh hải và các dải hẹp giờ đây dựa trên các nguyên tắc pháp lý. Các quốc gia ven biển đã tận dụng các điều khoản lợi thế cho phép mở rộng vùng ĐQKT ra tới 200 hải lý dọc theo bờ biển. Các quốc gia không có biển được quyền tiếp xúc với biển hoặc từ biển cũng được quy định một cách rõ ràng. Quyền được tiến hành các nghiên cứu khoa học biển giờ đây được dựa trên các nguyên tắc mà không thể vì lý do gì để từ chối. Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương đã được thành lập năm 1994, đang thực hiện chức năng tổ chức và kiểm soát các hoạt động dưới biển sâu ngoài vùng thuộc quyền tài phán quốc gia, nhằm điều hành việc khai thác và bảo tồn các nguồn tài nguyên của biển.Toà án Luật biển quốc tế cũng đã được thành lập năm 1996 và có quyền lực để giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển phát sinh từ việc áp dụng hay hiểu biết về Công ước.

Tuy nhiên, cần phải nói thêm rằng, phần XI của Công ước Luật biển 1982 liên quan đến quy chế pháp lý đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia (Công ước gọi chung là “Vùng”), đặc biệt là việc khai thác các quặng nằm sâu dưới đáy đại dương, đã làm dấy lên nhiều lo ngại từ các nước công nghiệp phát triển, đặc biệt là Mỹ. Để đạt được sự tham gia rộng rãi hơn của các nước đối với Công ước, Tổng thư ký LHQ đã chủ động tiến hành một loạt các cuộc tham vấn không chính thức giữa các quốc gia để giải quyết các lo ngại này. Sự tham vấn đã kết thúc bằng việc các nước đạt được thoả thuận vào tháng 7/1994, gọi là “ Thoả thuận liên quan đến việc thực hiện phần XI của Công ước Luật biển 1982”. Thoả thuận này được coi là một bộ phận của Công ước và đã mở đường cho tất cả các nước tham gia ký hoặc phê chuẩn để trở thành thành viên của Công ước.

Sau khi Công ước Luật biển 1982 được thông qua ngày 30/4/1982, Việt Nam là một trong 107 quốc gia tham gia ký Công ước tại Montego Bay. Ngày 23/6/1994, Quốc hội nước ta đã ra Nghị quyết  về việc phê chuẩn văn kiện pháp lý quan trọng này. Điểm 1 trong Nghị quyết nêu rõ: “ Bằng việc phê chuẩn Công ước của LHQ về Luật biển 1982, nước CH XHCN Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển”. Quốc hội khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng nội thủy, lãnh hải. Quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng ĐQKT và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các quy định của Công ước và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế, yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam. Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời cũng tuyên bố rõ lập trường của Nhà nước ta là giải quyết hòa bình các bất đồng liên quan đến Biển Ðông trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển Ðông đối với vùng ĐQKT và thềm lục địa; Trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản lâu dài, các bên liên quan cần duy trì hòa bình, ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

Tham gia Công ước Luật biển 1982, Việt Nam, quốc gia ven biển, được thừa nhận có vùng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng ĐQKT rộng 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý và có thể mở rộng tới 350 hải lý tính từ đường cơ sở. Diện tích các vùng biển và thềm lục địa mà nước ta được hưởng theo quy định của Công ước, khoảng gần một triệu Km2, rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền.

 Công ước Luật biển 1982 đã trở thành cơ sở pháp lý quốc tế vững chắc, quan trọng, được thừa nhận và luôn được viện dẫn trong cuộc đấu tranh cam go, phức tạp để bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa và các quyền và lợi ích chính đáng của nước ta trên biển. Trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bên cạnh những những chứng cứ lịch sử, pháp lý chứng minh chủ quyền của Việt Nam đã được xác lập liên tục, hoà bình từ lâu đời đối với hai quần đảo, Công ước là công cụ pháp lý để phản bác những yêu sách phi lý, ngang ngược của Trung Quốc đối với cái gọi là “đường lưỡi bò” chiếm đến 80% diện tích Biển Đông, vốn là vùng biển nửa kín được bao bọc bởi 9 quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Công ước Luật biển 1982 cũng là cơ sở pháp lý chung cho việc phân định vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa nước ta với các nước xung quanh Biển Đông như Cămpuchia, Thái lan, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia…góp phần tạo dựng sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, tạo môi trường ổn định, hoà bình, hợp tác và phát triển trong Biển Đông.

Sau 30 năm kể từ khi ra đời, không thể phủ nhận tầm quan trọng và vị trí pháp lý của Công ước Luật biển 1982 trong đời sống luật pháp quốc tế. Tại Hội nghị lần thứ 22 các quốc gia thành viên của Công ước, tổ chức tại NewYork  tháng 6/2012, một lần nữa Công ước được khẳng định là thành tựu của nhân loại bởi những quy định của nó là kết quả của sự hợp tác - đấu tranh - xây dựng nhiều năm giữa các quốc gia trên thế giới với các chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế, quan điểm luật pháp… khác nhau; là sự thoả hiệp giữa các quốc gia vì một nhận thức chung đối với tầm quan trọng sống còn của biển và đại dương đối với sự phát triển của nhân loại.Khi trở thành thành viên của Công ước, các quốc gia có trách nhiệm tuân thủ đầy đủ các quy định trong Công ước, không có ngoại lệ, và không có bảo lưu. Do đó, không thể có quốc gia nào, khi tham gia sân chơi luật pháp chung này, lại chỉ viện dẫn và áp dụng những quy định trong Công ước có lợi cho quốc gia mình, hoặc không tuân thủ, thậm chí phủ nhận, những quy định không có lợi cho quốc gia mình./.

MINH TRUNG


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Con đường tơ lụa trên biển và Ngoại giao đi dây kiểu Bangladesh

Con đường tơ lụa trên biển và Ngoại giao đi dây kiểu Bangladesh

Ngoại giao đi dây của Bangladesh đã đặt ra một thách thức không nhỏ cho Trung Quốc, khi nước này phải cạnh tranh với cả Ấn Độ và Nhật Bản trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, dẫn tới việc kiểm soát hoặc chiếm ưu thế tuyệt đối như tại Pakistan và Sri Lanka là gần như không thể.

Đọc tiếp...

Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông tổ chức Lễ trao giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông năm 2015

Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông tổ chức Lễ trao giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông năm 2015

Ngày 21.3, Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông đã tổ chức bảo vệ vòng II cho các tác giả có bài viết và công trình Nghiên cứu xuất sắc về Biển Đông và Lễ trao giải Giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông 2015.

Đọc tiếp...

Các dự án cơ sở hạ tầng ở Pakistan - Lời giải cho thế "lưỡng nan Malacca" của Trung Quốc?

Các dự án cơ sở hạ tầng ở Pakistan - Lời giải cho thế

Các dự án của Trung Quốc không chỉ giúp Pakistan bù đắp sự thiếu thốn về vốn đầu tư cơ sở hạ tầng, giúp thúc đẩy tăng trưởng và phát triển, mà hơn thế, nó còn hứa hẹn tạo ra những giá trị chiến lược quan trọng trong toan tính của cả hai nước.

Đọc tiếp...

Thông báo kết quả chấm vòng một Giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông 2015

Thông báo kết quả chấm vòng một Giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông 2015

Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông thông báo về kết quả chấm vòng I các bài viết tham dự Giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông 2015 nhằm chọn các bài viết chất lượng vào vòng thuyết trình bảo vệ kết quả nghiên cứu sẽ được tổ chức vào ngày 21/03/2016 tại Học viện Ngoại giao.

Đọc tiếp...

Sri Lanka - Điểm nối đầy thách thức của Con đường tơ lụa trên biển

Sri Lanka - Điểm nối đầy thách thức của Con đường tơ lụa trên biển

Sri Lanka đóng một vai trò chiến lược trên Con đường Tơ lụa trên biển thế kỷ 21 do Trung Quốc phát động đi qua Nam Á. Nhưng trái với những cơ hội mà các nhà chiến lược Trung Quốc đang hình dung, quyết định tham gia hay đứng bên ngoài dự án của chính phủ Sri Lanka đang trở thành đề tài tranh cãi gay gắt.

Đọc tiếp...

Thông báo về Giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông năm 2015

Thông báo về Giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông năm 2015

Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông triển khai chương trình hỗ trợ  nghiên cứu và viết bài về Biển Đông năm 2015 cho các tác giả/ nhóm tác giả trong và ngoài nước thông qua các giải thưởng và tài trợ “Bài nghiên cứu về Biển Đông năm 2015”, "Giải báo chí về Biển Đông năm 2015" và "Công trình nghiên cứu Biển Đông xuất sắc năm 2015".

Đọc tiếp...

Lựa chọn chính sách của Úc ở Biển Đông từ góc nhìn của một trung cường

Lựa chọn chính sách của Úc ở Biển Đông từ góc nhìn của một trung cường

Cùng với sự trỗi dậy ngày càng mạnh mẽ của Trung Quốc, chiến lược tái cân bằng của Mỹ cũng góp phần thúc đẩy Úc chủ động thúc đẩy việc đảm bảo an ninh Biển Đông. Với vai trò ngày càng gia tăng, Úc đã trở thành nhân tố quan trọng đặc biệt có tác động đến cấu trúc an ninh tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Tình hình Biển Đông và Chính sách của Việt Nam

Tình hình Biển Đông và Chính sách của Việt Nam

Ngày 25/7/2015 tại Hội trường của Tuần báo Việt Weekly nằm ở quận Cam bang California, Mỹ đã diễn ra Hội luận về chủ đề  "Tình hình Biển Đông và Chính sách của Việt Nam" với sự tham dự và trình bày của Tiến sĩ Đặng Đình Quý, Giám đốc Học viện Ngoại giao, Chủ tịch Hội đồng Quản lý Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông và Tiến sĩ Trần Trường Thủy, Giám đốc Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông.

Đọc tiếp...

Vấn đề Biển Đông trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản

Vấn đề Biển Đông trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản

Trong chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Nhật Bản, hai bên đã ra tuyên bố chung trong đó chia sẻ quan ngại và lên án hoạt động bồi đắp và xây dựng quy mô lớn ở Biển Đông. Với sự quan tâm ngày càng tăng đối với Biển Đông và những lợi ích chung về an ninh biển, sự can dự của Nhật Bản sẽ mang đến những thuận lợi và thách thức gì cho khu vực?

Đọc tiếp...

Bước chuyển về nhận thức và hành động của Ấn Độ trong vấn đề Biển Đông

Bước chuyển về nhận thức và hành động của Ấn Độ trong vấn đề Biển Đông

Tranh chấp Biển Đông nóng lên từ năm 2009, nhất là từ các hành động quyết đoán của Trung Quốc tác động đến lợi ích của các nước liên quan, bao gồm Ấn Độ, thúc đẩy Ấn Độ tăng cường can dự vào khu vực.

Đọc tiếp...

Series Bài giảng Luật pháp Quốc tế: Bình luận về Phiên tranh tụng đầu tiên vụ kiện trọng tài Philippines - Trung Quốc

Series Bài giảng Luật pháp Quốc tế: Bình luận về Phiên tranh tụng đầu tiên vụ kiện trọng tài Philippines - Trung Quốc

Vụ kiện của Philippines thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận khi đây là lần đầu tiên một nước đơn phương yêu cầu xem xét vận dụng cơ chế Phụ lục VII của Tòa Trọng tài Luật Biển quốc tế. Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, ngày 1/10/2015, Tiến sỹ Nguyễn Thị Lan Anh, Phó trưởng  Khoa Luật Quốc tế, Phó Viện trưởng Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao sẽ có buổi thuyết trình về chủ đề này.

Đọc tiếp...

Indonesia và tranh chấp Biển Đông: Nhất quán trong trung lập

Indonesia và tranh chấp Biển Đông: Nhất quán trong trung lập

Trước tình hình khu vực ngày một căng thẳng, chính phủ của tân tổng thống Indonesia ông Joko Widodo đang có những dự định điều chỉnh chính sách đại dương quốc gia. Chính sách đại dương của Indonesia đã có những thay đổi ra sao đến thời điểm này? Biển Đông nằm ở đâu trong các thay đổi đó đó?

Đọc tiếp...

Mặt trận thông tin Biển Đông - Bài 2: Đi tìm một cách “đánh” phù hợp

Mặt trận thông tin Biển Đông - Bài 2: Đi tìm một cách “đánh” phù hợp

“Tam chủng chiến pháp” dựa vào truyền thông và giới học giả giúp khuếch tán và bảo vệ luận điểm của Trung Quốc trên diễn đàn quốc tế. Mục tiêu là đánh vào tâm lý, gây nhiễu loạn thông tin và tung hỏa mù ở nhiều mặt trận khác nhau. Học giả và các trung tâm nghiên cứu trong lẫn ngoài nước đang trở thành một “công cụ mềm” được sử dụng một cách thường xuyên.

Đọc tiếp...

Lựa chọn của cường quốc bậc trung: Hàn Quốc và tranh chấp Biển Đông

Lựa chọn của cường quốc bậc trung: Hàn Quốc và tranh chấp Biển Đông

Với tư cách một cường quốc bậc trung khu vực, thì những động thái hung hăng hơn của Trung Quốc tại Biển Đông khiến có nhiều tiếng nói từ giới học giả kêu gọi Seoul cần phải đánh giá lại chính sách của mình.

Đọc tiếp...

Mặt trận thông tin Biển Đông - Bài 1: Phân tích từ sự kiện giàn khoan HD981

Mặt trận thông tin Biển Đông - Bài 1: Phân tích từ sự kiện giàn khoan HD981

Khi các sự kiện trên thực địa tại Biển Đông giữa 2015 đang nóng lên với “chiến lược đảo hóa” và sự xuất hiện trở lại của giàn khoan HD981, thì một trận chiến khác đang manh nha bùng nổ. Đó là cuộc chiến thông tin và tuyên truyền của Trung Quốc, mà được biết dưới các tên “Tam chủng chiến pháp”.

Đọc tiếp...

Điều cần bảo vệ là luật pháp và thực thi luật pháp

Điều cần bảo vệ là luật pháp và thực thi luật pháp

Cuối tháng bảy, Hội thảo về Biển Đông lần thứ năm - một sự kiện uy tín thường niên của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế của Mỹ (CSIS) tổ chức tại Washington D.C, đã thu hút sự quan tâm của đông đảo học giả, chính giới, báo chí với 400 chỗ tham dự được đặt kín chỉ trong vòng hai ngày thông báo.

Đọc tiếp...

Trục biển Toàn cầu: Chiến lược phát triển mới của Indonesia dưới thời Widodo

Trục biển Toàn cầu: Chiến lược phát triển mới của Indonesia dưới thời Widodo

Với sáng kiến này, Indonesia sẽ theo đuổi một chiến lược hoàn toàn mới so với người tiền nhiệm, lấy biển cả làm trung tâm phát triển kinh tế, bảo vệ an ninh, và xây dựng văn hóa. Chiến lược này là bước chuyển mạnh mẽ, nhưng phù hợp, bởi Indonesia là xứ sở vạn đảo với đường biển trải dài cả ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.

Đọc tiếp...

Từ “Thế giới hài hòa nửa mùa” tới “Hiện thực của mối đe dọa Trung Quốc”

Từ “Thế giới hài hòa nửa mùa” tới “Hiện thực của mối đe dọa Trung Quốc”

Cuộc thảo luận giữa Giáo sư Hoàng Tĩnh và cựu Ngoại trưởng Úc Bob Carr hé lộ nhiều điều đáng suy ngẫm về sự chuyển biến từ khái niệm “Thế giới hài hòa” thời ông Hồ Cẩm Đào đến “Hiện thực của mối đe dọa Trung Quốc” thời đại Tập Cận Bình. Đọc tiếp...

Quản lí căng thẳng một cách công bằng ở Biển Đông

Quản lí căng thẳng một cách công bằng ở Biển Đông

Sau mười ba năm, các bên trong tranh chấp vẫn chưa hề tiến được bước nào tới giải pháp cho các tranh chấp. Do đó, điều cần thiết bây giờ là một Bộ Quy tắc ứng xử (COC) không những khắc phục được các điểm yếu của DOC mà còn phải có biện pháp nhằm giải quyết các thách thức mới phát sinh từ năm 2002.

Đọc tiếp...

Việc Trung Quốc xây đảo ồ ạt và UNCLOS

Việc Trung Quốc xây đảo ồ ạt và UNCLOS

Chỉ trong vỏn vẹn một năm, việc Trung Quốc ồ ạt xây dựng các đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa còn đang tranh chấp đã làm thay đổi một cách sâu sắc cục diện địa lí và an ninh ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Hội thảo “Tăng cường hợp tác Việt Nam – Trung Quốc trong vùng Vịnh Bắc Bộ”

Hội thảo “Tăng cường hợp tác Việt Nam – Trung Quốc trong vùng Vịnh Bắc Bộ”

Ngày 11/5/2015, Quỹ Hỗ trợ nghiên cứu Biển Đông đã phối hợp với Học viện Ngoại giao tổ chức Hội thảo “Tăng cường hợp tác Việt Nam-Trung Quốc trong vùng Vịnh Bắc Bộ” tại thành phố Hạ Long.

Đọc tiếp...

Series Bài giảng Luật pháp Quốc tế: Các khía cạnh pháp lý của khu vực nhận diện phòng không

Series Bài giảng Luật pháp Quốc tế: Các khía cạnh pháp lý của khu vực nhận diện phòng không

Trên phương diện luật pháp quốc tế, những quy định và phạm vi nào cho phép việc thiết lập Vùng Nhận dạng Phòng không (ADIZ)? Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, ngày 24/4/2015, Tiến sỹ Nguyễn Đăng Thắng, Giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Học viện Ngoại giao sẽ có buổi thuyết trình với chủ đề "Các Khía cạnh Pháp lý của Khu vực Nhận diện Phòng không.

Đọc tiếp...

Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông trao giải thưởng cho các bài nghiên cứu và tác phẩm báo chí về Biển Đông

Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông trao giải thưởng cho các bài nghiên cứu và tác phẩm báo chí về Biển Đông

Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông trao giải thưởng cho các bài viết nghiên cứu và tác phẩm báo chí về Biển Đông với tổng giá trị giải thưởng 380 triệu VNĐ, góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết về Biển Đông, phát hiện nhiều vấn đề mới, các gợi ý chính sách giúp bảo vệ chủ quyền và thúc đẩy phát triển của Việt Nam.

Đọc tiếp...

Bão “tích điện” ở Biển Đông

Bão “tích điện” ở Biển Đông

Những ngày đầu tháng 12/2014, Philippines và Việt Nam oằn mình phòng chống siêu bão Habupit. Trên Biển Đông, một cơn bão khác đang tích điện và sẽ tạo ra những hệ quả khó lường cho các chính trị gia. Cơn bão chính trị - pháp lý tranh giành quyền ảnh hưởng trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Tranh chấp Biển Đông: Sự thực hay Điều hư cấu?

Tranh chấp Biển Đông: Sự thực hay Điều hư cấu?

Trong bài viết phản bác các lập luận thiếu khách quan của TS. Mark Valencia, tác giả Dương Danh Huy cho rằng nếu một quốc gia viện dẫn luật quốc tế để biện hộ cho lập trường của mình, trong khi lại tránh né việc đưa lập trường đó ra phân xử tại tòa thì việc sử dụng luật pháp quốc tế như vậy chỉ là lời nói, không xứng đáng có được sự ủng hộ từ phía các học giả.

Đọc tiếp...

Cải tạo đảo: Bước đi thay đổi cục diện ở Biển Đông

Cải tạo đảo: Bước đi thay đổi cục diện ở Biển Đông

Các dự án cải tạo đảo và xây dựng quy mô lớn và chưa có tiền lệ của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa khi hoàn tất sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đối với tranh chấp giữa các bên và cạnh tranh giữa các cường quốc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Giới thiệu sách mới về Biển Đông

Giới thiệu sách mới về Biển Đông

Nhằm phục vụ độc giả có cái nhìn chân thực hơn về vấn đề Biển Đông, Nghiên cứu Biển Đông xin giới thiệu bộ sách gồm hai cuốn “Biển Đông: Địa chính trị, Lợi ích, Chính sách và Hành động của Các bên liên quan” và “Biển Đông: Quản lý tranh chấp và Định hướng giải pháp”.

Đọc tiếp...

Trung Quốc mở tuyến du lịch Hoàng Sa – không đơn thuần chỉ là du lịch

Trung Quốc mở tuyến du lịch Hoàng Sa – không đơn thuần chỉ là du lịch

Ngày 2/9, Tân Hoa Xã công bố chuyến tàu du lịch tới quần đảo Hoàng Sa. Đây không chỉ là hành động mang ý nghĩa kinh tế mà còn phục vụ mục đích chính trị và trầm trọng hơn, đem lại một số ảnh hướng tiêu cực tới quan hệ Việt – Trung và tới chính Trung Quốc.

Đọc tiếp...

CHXHCN Việt Nam có bị ràng buộc bởi công thư 1958?

CHXHCN Việt Nam có bị ràng buộc bởi công thư 1958?

Cho dù những suy diễn về ý nghĩa của Công thư 1958 có đi xa như thế nào, cũng như phía Trung Quốc có đưa thêm bất kỳ bằng chứng gì, thì những gì liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa xảy ra ngoài lãnh thổ miền Nam Việt Nam trước 24.6.1976 không hề ràng buộc CHXHCN Việt Nam.

Đọc tiếp...

Vạch trần mưu đồ xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc tại Trường Sa

Vạch trần mưu đồ xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc tại Trường Sa

Song song với việc triển khai trái phép giàn khoan HD-981 trên thềm lục địa Việt Nam, Trung Quốc tiến hành mở rộng và xây dựng một số công trình quân sự trên các đảo đá ở Biển Đông nhằm thay đổi cục diện theo hướng có lợi rất lớn cho Trung Quốc.   

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 8684 khách Trực tuyến

Đăng nhập