23 - 5 - 2012 | 3:00
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU VIỆT NAM Trần Thanh Tùng, CHÍNH TRỊ NỘI BỘ PHI-LÍP-PIN VỚI TRANH CHẤP TRƯỜNG SA

Trần Thanh Tùng, CHÍNH TRỊ NỘI BỘ PHI-LÍP-PIN VỚI TRANH CHẤP TRƯỜNG SA

Email In PDF.

Bài viết tập trung phân tích những tác động của chính trị nội bộ đến việc hoạch định chính sách của Phi-líp-pin trong tranh chấp Trường Sa - là nơi Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Hai trường hợp nghiên cứu tình huống là Thỏa thuận thăm dò địa chấn chung giữa Việt Nam - Trung Quốc - Phi-líp-pin năm 2004/2005 và Luật đường cơ sở của Phi-líp-pin năm 2009.

_______________

 

Trong những tháng đầu năm 2009, biển Đông đã có những dấu hiệu “dậy sóng” với hàng loạt những động thái mới của các bên tranh chấp. Một trong những động thái đó là việc Tổng thống Phi-líp-pin thông qua Luật đường cơ sở mới của nước này vào tháng 3/2009. Để thông qua Luật này, nội bộ Phi-líp-pin đã phải trải qua quá trình đấu tranh và tranh cãi nội bộ gay gắt và phức tạp. Bài viết này tập trung phân tích những tác động của chính trị nội bộ đến việc hoạch định chính sách của Phi-líp-pin trong tranh chấp Trường Sa - là nơi Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Hai trường hợp nghiên cứu tình huống là Thỏa thuận thăm dò địa chấn chung giữa Việt Nam - Trung Quốc - Phi-líp-pin năm 2004/2005 và Luật đường cơ sở của Phi-líp-pin năm 2009.

 

Nội bộ Phi-líp-pin liên quan đến tranh chấp Trường Sa

Yêu sách của Phi-líp-pin đối với quần đảo Trường Sa đưa ra khá muộn và yếu về pháp lý. Lập luận của Phi-líp-pin về chủ quyền đối với Trường Sa chủ yếu dựa trên hai lý do: (i) Chính phủ Phi-líp-pin coi Trường Sa là những đảo thuộc chế độ giám hộ của các quốc gia đồng minh nên công dân Phi-líp-pin có quyền khai thác, lập nghiệp; (ii) Các đảo này kề cận với Phi-líp-pin, có nhiều liên quan đến an ninh, quốc phòng của Phi-líp-pin.[1] Tuy nhiên, những lập luận này thiếu cơ sở pháp lý vững chắc do phạm vi lãnh thổ của Phi-líp-pin theo Hiệp định Mỹ - Tây Ban Nha năm 1898 và 1900 không quy thuộc quần đảo Trường Sa nằm trong giới hạn chủ quyền của nước này. Sau thế chiến thứ Hai, Phi-líp-pin kêu gọi Nhật Bản trả lại lãnh thổ nhưng cũng không đề cập tới Trường Sa…[2] Đồng thời, trong Hiến pháp và các văn bản khác của Phi-líp-pin trong những năm 1930 và những năm 1970 cũng không đề cập tới chủ quyền của Phi-líp-pin đối với Trường Sa.

Môi trường an ninh, chính trị, xã hội nước này luôn ở trong tình trạng bất ổn định, chia rẽ nội bộ và mâu thuẫn gay gắt khi các phe phái luôn tìm cách tranh giành quyền lực, đấu đá và chỉ trích lẫn nhau. Vì vậy, đối với nhiều vấn đề, do bị chi phối bởi lợi ích cá nhân, cục bộ mà nội bộ Phi-líp-pin có những quan điểm và chính sách khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.

Đối với tranh chấp Trường Sa, nội bộ Phi-líp-pin cũng có nhiều quan điểm khác nhau trong việc tiếp cận và xử lý vấn đề. Bộ Ngoại giao Phi-líp-pin nghiêng về coi trọng quan hệ với các nước ASEAN, mọi sáng kiến liên quan đến vấn đề biển Đông đều muốn trao đổi với ASEAN trước khi thảo luận với Trung Quốc. Trong lúc đó, Tổng thống Arroyo, cùng với cựu Chủ tịch Hạ viện De Venecia, rất muốn thúc đẩy hợp tác với Trung Quốc để cải thiện tình hình kinh tế yếu kém trong nước và cân bằng quan hệ của Phi-líp-pin với Trung Quốc và với Mỹ

Ngoài ra, luật pháp của Phi-líp-pin cũng tạo khả năng cho nhiều phe phái trong nội bộ nước này tham gia vào vấn đề Trường sa. Về thăm dò và khai thác dầu khí, luật của Phi-líp-pin không cho phép các công ty nước ngoài thăm dò và khai thác dầu khí ở Phi-líp-pin với mức góp vốn quá 1/3. Bên cạnh đó, Hiến pháp Phi-líp-pin quy định ít nhất 60% lợi nhuận trong các hoạt động thăm dò, tìm kiếm, khai thác các nguồn tài nguyên của Phi-líp-pin phải thuộc về Phi-líp-pin. Đồng thời, tất cả các thoả thuận liên quan đến các tập đoàn nước ngoài phải được báo cáo Quốc hội trong vòng 30 ngày. [3]

Về cơ quan phụ trách, trong năm 2007 Tổng thống Arroyo thành lập Ủy ban các vấn đề biển và đại dương (CMOA) trực thuộc Phủ Tổng thống để tăng cường và thống nhất chỉ đạo công tác biển đảo. Cơ quan này thay thế Trung tâm Biển và Đại dương (MOAC) do Tổng thống Arroyo thành lập năm 2001 vì MOAC hoạt động không hiệu quả. Ủy ban các vấn đề biển và đại dương do Bộ trưởng Nội các làm Chủ tịch, hai Phó Chủ tịch là Bộ trưởng Tư pháp và Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ Ngoại giao làm Ban thư ký cho CMOA. Thành phần của Ủy ban gồm có đại diện của Bộ Quốc phòng, Hội đồng An ninh Quốc gia, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ngoại giao, Giao thông vận tải, Du lịch, Công thương, Năng lượng, Cục bản đồ và thông tin quốc gia… CMOA định hướng việc hoạch định các chính sách, thực hiện và phối hợp với các Bộ ngành, bao gồm các chuyên gia trong nước và ngoài nước về các vấn đề liên quan đến biển đảo.

Cuối cùng, vốn là đồng minh truyền thống của Mỹ, nhưng trong những năm gần đây, Phi-líp-pin đang trở thành địa bàn tranh giành ảnh hưởng sâu sắc giữa Mỹ và Trung Quốc. Trung Quốc đang ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Phi-líp-pin với những dự án đầu tư và viện trợ của mình. Sự cạnh tranh đó đã tác động đáng kể đến việc hoạch định chính sách của Phi-líp-pin và khiến cho mâu thuẫn và chia rẽ nội bộ của nước này càng thêm phức tạp và khó lường.

Thỏa thuận thăm dò địa chấn chung giữa Trung Quốc - Phi-líp-pin - Việt Nam tại Trường Sa (JMSU)

Ngày 1/9/2004, hai công ty dầu khí quốc gia là CNOOC của Trung Quốc và PNOC của Phi-líp-pin đã ký Thỏa thuận thăm dò địa chấn chung tại quần đảo Trường Sa. Với sự đấu tranh của Việt Nam, tháng 3/2005, ba nước Trung Quốc - Phi-lip-pin - Việt Nam đã ký Thỏa Thuận thăm dò địa chấn chung tại khu vực Trường Sa.[4] Khu vực thăm dò rộng 142.886 km2, ngoài khơi quần đảo Palawan của Phi-líp-pin. Trung Quốc phụ trách thu thập dữ liệu, sau đó giao cho Việt Nam xử lý và Phi-líp-pin đảm nhiệm phần lý giải. Công tác khảo sát được chia làm hai giai đoạn (từ tháng 7/2005 - tháng 1/2007 và từ tháng 1/2007 - tháng 6/2008). Sau đó, các bên sẽ chuyển sang giai đoạn hợp tác cùng khai thác. Kết quả ban đầu cho thấy triển vọng dầu khí đang nằm ở vùng biển gần về phía Phi-líp-pin. Do JMSU hết hạn ngày 1/7/2008, nên ba bên nhất trí sẽ trình chính phủ các nước gia hạn Thỏa thuận thêm 01 năm (đến tháng 6/2009) để hoàn thành giai đoạn khảo sát.[5]

 

Tuy nhiên, từ đầu năm 2008, phe đối lập tại Phi-líp-pin đã dấy lên làn sóng chỉ trích và yêu cầu điều tra tính hợp Hiến của Thỏa thuận JMSU. Tháng 2/2008, Thượng nghị sĩ Trillanes đưa dự thảo Nghị quyết 309 yêu cầu điều tra JMSU vì cho rằng chính phủ đã phần nào công nhận “đòi hỏi lịch sử” chiếm hầu hết biển Đông của Trung Quốc và làm vừa lòng Trung Quốc bằng việc hy sinh đoàn kết chính trị trong ASEAN. Tiếp đó, ông Trillanes cho rằng Tổng thống Arroyo có thể đã phạm tội phản quốc nếu ký JMSU để đổi lấy các khoản vay với những khoản đút lót và hối lộ thông qua các dự án ODA và các dự án đầu tư hàng trăm triệu USD của Trung Quốc (điển hình là dự án Băng thông rộng 329 triệu USD.)[6] Ông này còn cho biết thêm, ngày 2/4/2006, tập đoàn dầu khí Trung Quốc CNOOC International Limited đã ký một thoả thuận thăm dò với Philippine National Oil Exploration Corp, qua đó CNOOC International Limited được hưởng 51% lợi nhuận trên khu vực 7.200 km2 quanh nhóm đảo Calamian Islands của Palawan. Thoả thuận này rõ ràng vi phạm Hiến pháp Phi-líp-pin vì Hiến pháp quy định mọi hoạt động thăm dò, tìm kiếm, khai thác các nguồn tài nguyên của Phi-líp-pin thì ít nhất là 60% lợi nhuận thu được thuộc về người Phi-líp-pin. Ngoài ra, tất cả các thoả thuận liên quan đến các tập đoàn nước ngoài phải được báo cáo Quốc hội trong vòng 30 ngày. Ngày 27/2/2008, Thượng viện Phi-líp-pin đã phải giao ba Ủy ban điều trần công khai về vụ việc này.

 

Tại Hạ viện, Hạ nghị sĩ Abraham cũng tiến hành điều tra 31 Thỏa thuận ký giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc (từ tháng 1/2007) nhằm xác định liệu các thỏa thuận này có liên quan đến JMSU cho phép Trung Quốc thăm dò khai thác vùng đặc quyền kinh tế của Phi-líp-pin hay không. Vì Hiến pháp Phi-líp-pin quy định vấn đề thăm dò, khai thác và phát triển các nguồn lợi thiên nhiên của Phi-líp-pin phải do công dân Phi-líp-pin thực hiện chứ không có bất kỳ sự tham gia của bên đối tác nước ngoài nào (mục 2 điều XII). Ba Ủy ban của Hạ viện Phi-líp-pin là Ủy ban Đối ngoại, Quốc phòng và Năng lượng đã phải vào cuộc điều tra. Chủ tịch Hạ viện Prospero Nograles thì cho rằng sẽ mạo hiểm nếu điều tra JMSU mà không có sự đồng ý từ Trung Quốc và Việt Nam.

Các chỉ trích khác cho rằng việc chính phủ tham gia JMSU là vi phạm Hiến pháp vì đã cho phép nước ngoài khai thác trong vùng đặc quyền kinh tế của Phi-líp-pin tại khu vực Trường Sa, qua đó làm suy yếu lập trường của Phi-líp-pin trong tranh chấp Trường Sa. Tuy nhiên, phe chỉ trích còn chỉ ra rằng Thỏa thuận này cho phép Trung Quốc và Việt Nam thăm dò cả những khu vực thuộc chủ quyền của Phi-líp-pin mà hai nước trên không tuyên bố chủ quyền (24.000 km2 là lãnh thổ của Phi-líp-pin và không có tranh chấp). Bài viết của tác giả Barry Wain, thuộc Viện nghiên cứu Đông Nam Á, đăng trên tạp chí Kinh tế Viễn đông số tháng 1-2/2008 với nhan đề "Việc làm cẩu thả của Manila tại biển Đông", cho rằng điều nguy hiểm là Manila đã có một thoả hiệp đáng kể với Bắc Kinh, vì khoảng 1/6 khu vực dành cho khảo sát địa chấn trong dự án là nằm trong vùng nước của Phi-líp-pin, bên ngoài khu vực đòi hỏi chủ quyền của cả Trung Quốc và Việt Nam.[7]

Những chỉ trích và yêu cầu điều tra của phe đối lập đã dẫn tới việc một số nhân vật có quan hệ gần gũi với chính phủ của bà Arroyo phải từ chức. Chủ tịch Hạ viện De Venecia, một nhân vật thân cận và có nhiều công lao giúp Tổng thống Arroyo tại vị như hiện nay, đã bị hất khỏi ghế Chủ tịch Hạ viện vào tháng 2/2008. Ông Manuel Villar đã từ chức Chủ tịch Thượng viện tháng 11/2008. Ngày 22/9/2007, Tổng Thống Arroyo đã phải quyết định ngưng dự án Băng thông rộng (NBN) trị giá 329 triệu USD với Trung Quốc.

Phản ứng trước những chỉ trích và cáo buộc trên, Bộ Ngoại giao Phi-líp-pin ra tuyên bố ngắn gọn cho rằng việc Phi-líp-pin, Trung Quốc và Việt Nam ký JMSU là phù hợp với các điều khoản của DOC; JMSU là sự cam kết chính trị của ba nước nhằm tiến tới giải quyết tranh chấp ở biển Đông một cách hòa bình và xây dựng; JMSU là một biện pháp xây dựng lòng tin; JMSU nhằm đánh giá tài nguyên biển ở khu vực tranh chấp và chỉ giới hạn trong việc điều tra có tính khoa học.[8] Cựu Bộ trưởng Năng lượng Vincent Perez và Cựu Tổng Giám đốc Công ty dầu khí Quốc gia Phi-líp-pin (PNOC) Manalac, người ký JMSU, đều khẳng định JMSU không liên quan đến chính trị mà chỉ là hoạt động khoa học, không ảnh hưởng đến việc đòi hỏi chủ quyền của Phi-líp-pin.[9] Cựu Chủ tịch Hạ viện De Venecia cho biết JMSU không liên quan đến các khoản vay của Trung Quốc và không từ bỏ bất cứ đòi hỏi chủ quyền của Phi-líp-pin.[10]

Mặc dù vậy, ngày 10/7/2008, Bộ trưởng Năng lượng Angelo Reyes đã phải tuyên bố “Thỏa thuận hết hạn hôm 1/7/2008 và không được gia hạn thêm”. Quá trình hợp tác JMSU tạm thời rơi vào bế tắc. Có thông tin cho biết chính phủ Phi-líp-pin đang xem xét khả năng thúc đẩy JMSU theo hướng một “hợp đồng thương mại giữa Phi-líp-pin, Trung Quốc và Việt Nam”.[11]

Luật Đường cơ sở mới của Phi-líp-pin

Phi-líp-pin phải nộp báo cáo về thềm lục địa lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa (CLCS) của Liên Hợp Quốc trước thời hạn 13/5/2009 để đưa ra yêu sách của mình đối với thềm lục địa mở rộng. Trong nỗ lực đó, ngày 10/3/2009, Tổng thống Phi-líp-pin Arroyo đã ký ban hành Luật Cộng hòa số 9522 (Republic Act 9522) về đường cơ sở mới (đường cơ sở cũ năm 1968), qua đó quản lý quần đảo Trường Sa và bãi cạn Hoàng Nham theo “quy chế đảo”.

Dự luật đường cơ sở đã gây ra tranh cãi và mâu thuẫn sâu sắc trong nội bộ Phi-líp-pin ngay từ quá trình xem xét dự luật. Trong năm 2007, Hạ nghị sĩ Atonio Cuenco, Chủ tịch Ủy ban đối ngoại Hạ viện, đã đưa ra dự luật HB 3216 về đường cơ sở mới của Phi-líp-pin, trong đó quy thuộc Trường Sa và bãi cạn Hoàng Nham vào trong đường cơ sở của Phi-líp-pin. Với dự luật này, Phi-líp-pin sẽ tuyên bố tối đa chủ quyền của mình tại Trường Sa. Dự luật này đã thông qua hai lần đọc tại Hạ viện và lần đọc thứ ba (lần cuối) dự kiến diễn ra vào tháng 4/2008. Tuy nhiên, do chưa thống nhất được trong nội bộ và trước phản ứng từ bên ngoài (Trung Quốc phản đối mạnh và Việt Nam có ý kiến) nên ngày 21/4/2008 dự luật này đã buộc phải tạm hoãn để nghiên cứu thêm. Ngày 8/5/2008, Hạ viện Phi-líp-pin đã thành lập Ủy ban Quốc hội về lãnh thổ quốc gia để nghiên cứu các yêu sách lãnh thổ của Phi-líp-pin tại quần đảo Trường Sa.

 

Tiếp diễn biến trên, ngày 28/1/2009, Thượng viện Phi-líp-pin thông qua dự luật SB 2699 với tỷ lệ phiếu tuyệt đối 15/0, trong đó không gộp quần đảo Trường Sa và bãi cạn Hoàng Nham vào trong đường cơ sở, mà quản lý theo “quy chế đảo”. Ngày 2/2/2009, Hạ viện Phi-líp-pin thông qua dự luật HB 3216 với số phiếu áp đảo 171/3, gộp quần đảo Trường Sa và bãi cạn Hoàng Nham vào hệ thống đường cơ sở của Phi-líp-pin. Theo đó, vùng nước quần đảo của Phi-líp-pin sẽ được mở rộng tối đa, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Phi-líp-pin lấn sâu vào vùng biển của các nước xung quanh. Do có sự khác nhau trong hai phiên bản dự luật trên nên sau khi nhóm họp, ngày 17/2/2009 lưỡng viện Phi-líp-pin đã thông qua dự thảo quản lý Trường Sa và Hoàng Nham theo “quy chế đảo” rổi trình lên Tổng thống ký ban hành luật.[12] Ngày 10/3/2009, Tổng thống Arroyo đã ký Luật cộng hoà RA 9522 xác định đường cơ sở mới của Phi-líp-pin và quản lý Trường Sa và bãi cạn Hoàng Nham theo “quy chế đảo” (phiên bản của Thượng viện).

Để đạt được dự luật trên, nội bộ và các phe phái Phi-líp-pin đã trải qua quá trình đấu tranh và mâu thuẫn gay gắt. Sau khi Hạ viện thông qua dự luật HB 3216 vào ngày 2/2/2009, Thượng Nghị sỹ Santiago đã cho rằng đó là một “sai lầm chí tử”, có thể dẫn đến “một thảm hoạ về ngoại giao” và có thể “dẫn đến chiến tranh”. Bà lý giải việc đưa Trường Sa và Hoàng Nham vào trong đường cơ sở là không phù hợp với Công ước Luật biển Liên Hợp Quốc. Bên cạnh đó, các đảo quy định trong dự luật đã bị các nước Đông Nam Á và Trung Quốc chiếm giữ.[13]

Thượng nghị sĩ Zubiri thì cho rằng phiên bản dự luật quản lý theo “quy chế đảo” là phù hợp với UNCLOS nhưng vẫn bảo đảm chủ quyền của Phi-líp-pin. Ngày 6/2/2009, Bộ trưởng Môi trường Phi-líp-pines Jose Atienza Jr. đã bảo vệ quyết định của chính phủ trong việc không đưa các đảo ở Trường Sa vào đường cơ sở mới của Phi-líp-pin.[14] Ông nói việc này không có nghĩa là từ bỏ chủ quyền đối với khu vực đó mà chỉ đơn thuần là một “chiến lược” nhằm tránh xung đột quốc tế. Ủy ban Ngoại giao và Ủy ban Vụ Biển và Đại Dương Phi-líp-pin cũng ủng hộ dự luật của Thượng viện.

Dư luận Phi-líp-pin cũng còn nhiều ý kiến không đồng tình với dự luật đường cơ sở mà Tổng thống Arroyo vừa thông qua. Ngày 1/4/2009, một nhóm cựu quan chức, giáo viên, và sinh viên luật tại thủ đô Manila do Hạ nghị sĩ Risa Hontiveros dẫn đầu đã đệ đơn lên Tòa án tối cao Phi-líp-pin yêu cầu hủy bỏ Luật đường cơ sở vì Luật này vi phạm Hiến pháp Phi-líp-pin với một số lập luận sau: (1) Vi phạm Điều 1 Hiến pháp vì đưa ra ngoài đường cơ sở rất nhiều vùng nước mà trước kia thuộc chủ quyền của Phi-líp-pin được xác định theo Hiệp ước Paris 1898 (Phi-líp-pin mất khoảng 15.000 hải lý vuông thuộc vùng nước chủ quyền và đặc quyền kinh tế); (2) Vi phạm khoản 7 và 8 Điều 2 của Hiến pháp về xác định vùng nước tiếp giáp và vùng nội thủy của Phi-líp-pin. Theo luật RA 9522, thuyền quốc tế có thể qua lại các vùng biển của Phi-líp-pin, trong đó có cả tàu chở vũ khí hạt nhân, mặc dù Phi-líp-pin thực hiện chính sách phi vũ khí hạt nhân; (3) Luật 9522 làm suy yếu tuyên bố chủ quyền của Phi-líp-pin và sẽ ảnh hưởng tới tuyên bố chủ quyền của Phi-líp-pin tại đảo Sabah (khu vực đang tranh chấp giữa Phi-líp-pin và Malaysia).[15]

Luật cộng hoà RA 9522 cũng vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của các bên tranh chấp trong khu vực. Ngay chiều 11/3/2009, Đại sứ quán Trung Quốc tại Phi-líp-pin đã ra tuyên bố kịch liệt phản đối. Trợ lý Ngoại trưởng Trung Quốc Hồ Chính Dượt đã khẩn cấp triệu Đại sứ Phi-líp-pin tại Bắc Kinh. Đại sứ Trung Quốc tại Phi-líp-pin Lưu Kiến Siêu đã có ý kiến với Bộ trưởng Ngoại giao Phi-líp-pin. Ngày 13/3/2009, Đài Loan cũng lên tiếng phản đối việc Phi-líp-pin thông qua luật đường cơ sở [16]

Việt Nam đã nhiều lần phản đối Phi-líp-pin từ khi Hạ viện Phi-líp-pin đang trong quá trình xem xét dự luật đường cơ sở. Từ tháng 01/2008, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp phía Phi-líp-pin ở Hà Nội và Manila nhằm khẳng định lập trường của Việt Nam ở biển Đông và yêu cầu phía Phi-líp-pin không thông qua dự luật. Sau khi Hạ viện Phi-líp-pin thông qua luật đường cơ sở ngày 2/2/2009, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nói rõ dự luật của Hạ viện Phi-líp-pin không phù hợp với Công ước luật biển 1982 và DOC, có thể làm phức tạp thêm tình hình, đồng thời khẳng định Việt Nam sẵn sàng trao đổi sâu hơn với Phi-líp-pin về vấn đề này.[17] Ngay sau khi Tổng thống Phi-líp-pin ký ban hành Luật RA 9522 ngày 10/3/2009, ngày 12/3/2009, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã khẳng định lại lập trường của Việt Nam, nêu rõ việc "Tổng thống Phi-líp-pin Gloria Arroyo ký ban hành Luật đường cơ sở mới của Phi-líp-pin, trong đó quy thuộc các đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam vào lãnh thổ của Phi-líp-pin đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa, làm phức tạp thêm tình hình, không phù hợp với tinh thần của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông, đi ngược lại với xu thế hợp tác trong khu vực".[18]

Trước sự đấu tranh gay gắt và quyết liệt trong nội bộ và phản ứng của Việt Nam (và của Trung Quốc), Quốc hội và Tổng thống Phi-líp-pin đã phải thông qua dự luật đường cơ sở theo phương án của Thượng Viện, theo đó quản lý quần đảo Trường Sa và bãi cạn Hoàng Nham theo “quy chế đảo”, có nghĩa là các đảo và bãi đá ở Trường Sa và Hoàng Nham của Phi-líp-pin chỉ có vùng biển rộng 12 hải lý. Đây là phương án thấp hơn trong hai dự luật đường cơ sở.

Tóm lại, những tranh cãi và mâu thuẫn trong nội bộ và chính giới Phi-líp-pin chủ yếu xoay quanh việc có hay không bao gồm Truờng Sa và bãi cạn Hoàng Nham vào trong đường cơ sở mới của nước này. Một số nguyên nhân của việc Hạ viện Phi-líp-pin nhanh chóng thay đổi lập trường theo hướng của Thượng viện có thể là: (i) Lực lượng không quân và hải quân của Phi-líp-pin yếu, không có khả năng giữ được biển đảo tại Trường Sa trong trường hợp có chiến tranh; (ii) Có thể Trung Quốc vận động và gây sức ép mạnh qua đường chính thức cũng như không chính thức; (iii) Phi-líp-pin không muốn làm tổn hại quan hệ với Trung Quốc và Việt Nam, đặc biệt là Trung Quốc, nhà cung cấp ODA và nhà tài trợ lớn, còn Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn nhất của Phi-líp-pin.

Thay lời kết

Tình hình tranh chấp chủ quyền tại khu vực biển Đông vốn đã tạm lắng xuống trong những năm đầu của thế kỷ 21 đã bị “hâm nóng” sau khi Phi-líp-pin thỏa hiệp với chính sách “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc bằng việc ký Thỏa thuận thăm dò địa chấn chung. Động thái này của Phi-líp-pin đã làm phức tạp thêm tình hình tranh chấp biển đảo trong khu vực. Thêm vào đó, quyết định thông qua đường cơ sở của Phi-líp-pin tháng 3/2009 đã ảnh hưởng đến chủ quyền của các bên liên quan, trong đó có Việt Nam. Hàng loạt các cuộc đấu tranh ngoại giao của các bên sau đó đã làm cho biển Đông “dậy sóng” thời gian gần đây.

Trong nội bộ Phi-líp-pin, những “người chơi” có vai trò quyết định trong chính sách đối với biển đảo là Tổng thống (chính phủ) và Quốc hội. Tổng thống Arroyo và Chủ tịch Hạ viện thời gian đó là ông De Venecia chủ trương thúc đẩy mạnh quan hệ với Trung Quốc, do đó đã tiến tới ký Thỏa thuận hai bên. Tuy nhiên, đối với trường hợp thông qua đường cơ sở năm 2009, Quốc Hội Phi-líp-pin là những người có tiếng nói quyết định đến phiên bản được lựa chọn. Chính phủ của bà Arroyo tuy nghiêng theo hướng phiên bản của Thượng viện song quyền quyết định vẫn thuộc về các nghị sĩ Quốc hội.

Tóm lại, phức tạp trong nội bộ Phi-líp-pin đã ảnh hưởng nhiều đến quá trình nước này xây dựng chính sách biển đảo và triển khai hợp tác/đấu tranh với các nước liên quan,

Trần Thanh Tùng, Chương trình Nghiên cứu Biển Đông

  Bài đăng trên tạp chí Nghiên cứu quốc tế số tháng 9 năm 2009
 
www.nghiencuubiendong.vn

[1] Chủ quyền của Phi-líp-pin tại biển Đông, Tài liệu ở Vụ Đông Nam Á - Nam Á - Nam Thái Bình Dương.

[2] Chủ quyền của Phi-líp-pin tại biển Đông, Tài liệu ở Vụ Đông Nam Á - Nam Á - Nam Thái Bình Dương.

[3] Khoản 2, Điều 7, Hiến pháp Phi-líp-pin năm 1987.

[4] Ngay sau khi Trung Quốc và Phi-líp-pin ký Thỏa thuận, Việt Nam đã liên tục đấu tranh với cả Trung Quốc và Phi-líp-pin ở nhiều cấp, kể cả cấp Nhà nước trên nhiều diễn đàn song phương và đa phương. Ngày 3/9/2004, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã ra tuyên bố phê phán việc làm trên, yêu cầu hủy bỏ Thỏa thuận và thực hiện nghiêm túc DOC. Việt Nam cũng đã cử nhiều đoàn đi Trung Quốc, Phi-líp-pin đấu tranh trực tiếp và sử dụng các diễn đàn của ASEAN, các cuộc đàm phán về vấn đề trên biển để đấu tranh, yêu cầu Trung Quốc và Phi-líp-pin không phê duyệt, triển khai Thỏa thuận. Trước tình hình này, phái coi trọng quan hệ với ASEAN trong nội bộ Phi-líp-pin đã có thêm lập luận để đòi sửa đổi nội dung Thỏa thuận, đặt nó trong khung cảnh quan hệ quốc tế rộng hơn. Kết quả là trong đàm phán tại Hà Nội vào tháng 3/2005, Việt Nam đã đạt được yêu cầu là ba nước sẽ ký một Thỏa thuận mới ba bên thay thế cho Thỏa thuận hai bên giữa Trung Quốc và Phi-líp-pin.

[5]  Báo Inquirer

[6] Probe Gloria Treason, “Sellout of sovereignty seen for dirty Chinese loan”, Báo Malaya ngày 29/02/2008.

[7] Tin tham khảo đặc biệt TTXVN ngày 24/5/2008.

[8] Palace says agreement with China not a sellout of RP sovereignty http://www.pia.gov.ph/default.asp?m=12&fi=p080308.htm&no=26

[9] JMSU not a treaty; does not violat RP’s Constitution – Perez, Manalac

http://www.gov.ph/index2.php?option=com_content&do_pdf=1&id=6101

[10] De Venecia denies Spratly pact tied to loans from China

http://newsinfo.inquirer.net/breakingnews/nation/view/20080307-123298/De-Venecia-denies-Spratly-pact-tied-to-loans-from-China

[11] Tin Tham khảo TTXVN, ngày 24/12/2008

[12] “Baseline bill OK’d at bicam”, Báo Inquirer, ngày 9/2/2009.

[13]House baselines bill ‘fatally flawed”, http://newsinfo.inquirer.net/breakingnews/nation/view/20090203-187204/House-baselines-bill-fatally-flawed, ngày 4/2/2009.

[14] “DENR defends exclusion of Kalayaan Islands from baselines”, http://www.gmanews.tv/story/147717/denr-defends-exclusion-of-kalayaan-islands-from-baselines, GMA News ngày 7/2/2009.

[15]“Cha-cha on as House OKs Nograles resolution” tại http://www.tribune.net.ph/20090204/headlines/20090204hed3.html

[16] “Manila flexes its muscles in South China Sea dispute”, http://www.taiwantoday.tw/ct.asp?xItem=49115&CtNode=427

[17] Họp báo thường kỳ của người phát ngôn Bộ Ngoại giao ngày 5/2/2009 tại  http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi/pbnfn/ns090205174108

[18] Phản ứng của Việt Nam về việc Tổng thống Phi-líp-pin ký ban hành luật đường cơ sở mới  tại http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi/pbnfn/ns090312184402


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Học bổng hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông

Học bổng hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông

Học viện Ngoại giao thông báo triển khai Chương trình Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông trên toàn quốc. Dự kiến năm 2012 sẽ cấp 20 suất hỗ trợ (mỗi suất 10.000.000VNĐ) cho các nghiên cứu xuất sắc, góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo và thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Phân tích một số lập luận của Trung Quốc về “Chủ quyền lịch sử” của họ tại Biển Đông

Phân tích một số lập luận của Trung Quốc về “Chủ quyền lịch sử” của họ tại Biển Đông

Bài viết của PGS.TS Vũ Dương Huân phân tích bản chất các lập luận của Trung Quốc về cái gọi là "chủ quyền lịch sử”của họ đối với Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển nằm trong đường lưỡi bò.

Đọc tiếp...

Thực trạng xây dựng thể chế khu vực bảo vệ môi trường biển tại Biển Đông

Thực trạng xây dựng thể chế khu vực bảo vệ môi trường biển tại Biển Đông

Bài viết của NCS. Vũ Hải Đăng và TS. Nguyễn Chu Hồi đánh giá về việc xây dựng thể chế liên quan đến những cơ chế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển tại Biển Đông. Phân tích cho thấy kết quả khá thất vọng trong quá trình xây dựng thể chế bảo vệ môi trường biển tại Biển Đông và khu vực vẫn còn một quãng đường dài trong vấn đề này. 

Đọc tiếp...

Chính sách Biển Đông của Việt Nam và Trung Quốc

Chính sách Biển Đông của Việt Nam và Trung Quốc

Phỏng vấn của BBC với Tiến sĩ Trần Trường Thủy, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông, Nhà nghiên cứu duy nhất của Việt Nam tại hội thảo Biển Đông ở Manila ngày 16-17/10, về những thay đổi gần đây trong chính sách Biển Đông của Trung Quốc và Việt Nam.   

Đọc tiếp...

Hiện trạng mô hình hợp tác quốc tế về bảo tồn thiên nhiên tại các vùng biển cận biên và một số gợi ý ban đầu cho Việt Nam

Hiện trạng mô hình hợp tác quốc tế về bảo tồn thiên nhiên tại các vùng biển cận biên và một số gợi ý ban đầu cho Việt Nam

Bài viết của TS. Dư Văn Toán, Viện Nghiên cứu Quản lý biển và hải đảo, giới thiệu tổng quan các mô hình hợp tác quốc tế (HTQT) về các khu bảo tồn biển đa quốc gia trên thế giới. Từ việc phân tích những lợi ích của mô hình này, bài viết đề xuất phân chia khu vực biển Việt Nam thành bốn vùng: vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan, Hoàng Sa, Trường Sa và mô hình HTQT phù hợp qua đó đề xuất xây dựng khu vực Trường Sa thành Công viên biển hòa bình quốc tế. Đọc tiếp...

Tình huống chiến lược Biển Đông

Tình huống chiến lược Biển Đông

Bài viết của TS. Đặng Xuân Thanh*, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, phân tích cấu trúc tình huống chiến lược tại Biển Đông, từ đó đưa ra dự báo ngắn hạn và triển vọng dài hạn cho cục diện tình hình ở vùng biển phức tạp này.

Đọc tiếp...

Từ DOC qua Hướng dẫn thực hiện tới COC trên Biển Đông

Từ DOC qua Hướng dẫn thực hiện tới COC trên Biển Đông

Ngày 21 tháng 7 năm 2011, tại Bali – Indonesia, ASEAN và Trung Quốc đã đạt được Bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC sau 9 năm đàm phán. Văn bản này được xem là bước tiến trong tiến trình quản lý tranh chấp, tuy nhiều ý kiến bình luận hoài nghi về khả năng kiềm chế các căng thẳng trên Biển Đông. NCBĐ xin giới thiệu bài viết của nhà nghiên cứu Việt Long về quá trình đi từ DOC đến Bản Quy tắc hướng dẫn, từ đó gợi mở các hướng về COC trong tương lai.

Đọc tiếp...

Phi-líp-pin định kiện Trung Quốc về điều gì ở Tòa trọng tài thành lập theo Công ước Luật biển? Và làm sao họ làm được như vậy?

Phi-líp-pin định kiện Trung Quốc về điều gì ở Tòa trọng tài thành lập theo Công ước Luật biển? Và làm sao họ làm được như vậy?

Bài viết của Nguyễn Đăng Thắng*, Nghiên cứu sinh luật tại Anh, phân tích những cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước luật biển, mối quan tâm chính trong tranh chấp tại Biển Đông của Phi-lip-pin, từ đó đưa ra những đánh giá triển vọng về việc nước này kiện (nếu có) Trung Quốc, những suy ngẫm và có thể là bài học để Việt Nam tham khảo và xem xét.

Đọc tiếp...

"Thỏa thuận chung” về vấn đề Biển Đông

Trả lời phỏng vấn của đài ABC của Úc trong bài "Thỏa thuận chung” về vấn đề Biển Đông, TS. Trần Trường Thủy, GĐ Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông, cho biết quan điểm của ông về một số vấn đề nhiều người quan tâm hiện nay như chuyến đi Trung Quốc của Thứ trưởng NG Hồ Xuân Sơn, các thỏa thuận về quản lý Biển Đông như DOC, Bản hướng dẫn thực thi DOC, và mong đợi của Việt Nam tại Hội nghị Bali.

Đọc tiếp...

Vụ tàu Bình Minh 02 - một Vụ CGX trên Biển Đông?

Vụ tàu Bình Minh 02 - một Vụ CGX trên Biển Đông?

Vụ việc tàu hải giám của Trung Quốc ngang nhiên cắt cáp thăm dò của tàu địa chấn Bình Minh 02 thuộc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam đang được dư luận hết sức quan tâm.  NCBĐ giới thiệu bài bình luận nóng của tác giả Nguyễn Đăng Thắng, dựa trên Công ước luật  biển 1982 và các tiền lệ án quốc tế, phân tích tính phi lý trong hành động của phía Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Phản ứng của các nước và cục diện an ninh mới ở Biển Đông (phần cuối)

Phản ứng của các nước và cục diện an ninh mới ở Biển Đông (phần cuối)

Sau những chính sách và hành động của Trung Quốc đối với Biển Đông kể từ 2007, vấn đề Biển Đông càng được thu hút bởi dư luận thế giới đặc biệt là Mỹ. Do đó sự căng thẳng của vấn đề Biển Đông cần được xem xét trong tổng thể lợi ích và các mối quan tâm của các nước có liên quan, trước hết là các nước trong khu vực, Trung Quốc và Mỹ.

Đọc tiếp...

Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông

Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông

Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông đã có những thay đổi rõ rệt. Điều này dựa trên mối liên hệ giữa chính sách Biển Đông của Trung Quốc với những diễn biến mới trong bối cảnh quốc tế, chính trị nội bộ của Trung Quốc, đặc biệt là gắn nó với chiến lược an ninh - đối ngoại của Bắc Kinh hiện nay. Do đó chiến lược giấu mình chờ thời hay “ ngoại giao hài hòanhường chỗ cho chiến lược an ninh và đối ngoại mang tính khẳng định hơn, chủ động và hiếu chiến hơn nhằm gây sức ép với các nước tranh chấp trong khu vực.

Đọc tiếp...

Bàn tròn tranh luận: Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò (phần cuối)

Bàn tròn tranh luận: Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò (phần cuối)

Một ngày sau khi có tin Phi-líp-pin gửi thư lên Liên Hiệp Quốc để phản đối yêu sách đường chín đoạn của Trung Quốc, Bắc Kinh lên tiếng nói điều này “không thể chấp nhận được”. Đáp lại công hàm của Phi-líp-pin, Trung Quốc cũng lập tức gửi công hàm ngoại giao lên Liên Hiệp Quốc khẳng định chủ quyền 'không thể chối cãi' ở Biển Đông. Về nội dung công hàm này, các chuyên gia có khá  nhiều ý kiến bình luận xung quanh cách giải thích, ngôn từ cũng như  ý đồ của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Bàn tròn tranh luận: Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò (tiếp theo)

Bàn tròn tranh luận: Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò (tiếp theo)

Trả lời câu hỏi tại sao Phi-líp-pin lại lên tiếng vào thời điểm này và với công hàm này, tiến trình giải quyết hòa bình các tranh chấp tại Biển Đông liệu sẽ được thúc đẩy hay không, PGS. Nguyễn Hồng Thao đã có bài bình luận toàn diện và chi tiết.

Đọc tiếp...

Bàn tròn tranh luận: Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò

Bàn tròn tranh luận: Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò

Công hàm của Phi-líp-pin phản đối Đường lưỡi bò và công hàm phản hồi của Trung Quốc gửi Liên Hiệp Quốc trong tháng 4 năm 2011 liên quan đến Biển Đông đã thu hút sự quan tâm và chú ý của dư luận. NCBĐ mời các chuyên gia trong vấn đề Biển Đông tham gia tranh luận trực tuyến về cuộc chiến pháp lý mới này.  

Đọc tiếp...

Đằng sau những thay đổi trong cách tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông

Đằng sau những thay đổi trong cách tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông

Ở phần này bài viết sẽ đi vào phân tích đánh giá những tác nhân đằng sau những thay đổi trong các tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông kể từ năm 2007 đến nay. Bài viết đánh giá việc Trung Quốc duy trì chính sách mập mờ về “lợi ích cốt lõi” của mình đối với Biển Đông là để nhằm tránh việc đa phương hóa vấn đề tranh chấp Biển Đông nhằm hạn chế sự can thiệp của quốc tế đặc biệt là Mỹ, và hơn nữa là nhằm tạo điều kiện có lợi cho mình trong việc sử dụng “sức mạnh mềm” trong giải quyết tranh chấp với các nước trong khu vực này.

Đọc tiếp...

Nhìn lại chính sách của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông từ 2007 đến nay

Nhìn lại chính sách của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông từ 2007 đến nay

Bài viết của hai tác giả Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh*, Chương trình Nghiên cứu Biển Đông  đánh giá những thay đổi về chính sách của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông từ năm 2007 đến nay, giải mã những căng thẳng ở khu vực Biển Đông nhìn từ khía cạnh chính sách và động thái của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Sống chung với nước láng giềng lớn hơn: Thực tiễn và chính sách

Sống chung với nước láng giềng lớn hơn: Thực tiễn và chính sách

Đề cập đến mối quan hệ nước lớn - nước nhỏ trong quan hệ quốc tế, PGS.TS Nguyên Vũ Tùng cho rằng "Đối với nước nhỏ, quan hệ với nước lớn chung biên giới luôn là một mối quan hệ khó khăn". Bài nghiên cứu nêu lên nguồn gốc của những khó khăn trong mối quan hệ này, từ đó đưa ra một số khuyến nghị về chính sách đối ngoại của các nước nhỏ đối với nước lớn láng giềng.

Đọc tiếp...

Những chủ thể và tư duy đối ngoại mới ở Trung Quốc: Hệ lụy đối với chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông

Những chủ thể và tư duy đối ngoại mới ở Trung Quốc: Hệ lụy đối với chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông

Bài viết tổng hợp phân tích về các nhóm lợi ích và ảnh hưởng của các nhóm này đối với  quá trình hoặc định chính sách đối  ngoại của Trung Quốc. Qua đó, tác giả rút ra các hệ lụy đối với chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông.

Đọc tiếp...

Nguyễn Nam Dương, Dư âm ARF và quan hệ ASEAN - Trung Quốc trên biển Đông

Nguyễn Nam Dương, Dư âm ARF và quan hệ ASEAN - Trung Quốc trên biển Đông

Diễn đàn An ninh khu vực ARF khép lại hồi tháng 7 nhưng dư âm của nó còn kéo dài, làm nóng các trang báo ở các quốc gia liên quan, nhất là xoay quanh vấn đề Biển Đông, và trục quan hệ ASEAN - Trung Quốc - Mỹ.
Đọc tiếp...

Hoàng Việt, PHÂN TÍCH CÁC YÊU SÁCH VỀ "ĐƯỜNG LƯỠI BÒ" THEO LUẬT QUỐC TẾ

Hoàng Việt, PHÂN TÍCH CÁC YÊU SÁCH VỀ
I.                  Đặt vấn đề

Cuộc tranh chấp biển Đông vẫn đang là một “nguy cơ” gây bất ổn trong khu vực. Tranh chấp biển Đông đã trở thành một trong những cuộc tranh chấp phức tạp bậc nhất trên thế giới. Sự phức tạp của tranh chấp biển Đông đến từ các yêu sách phức tạp về chủ quyền của nhiều quốc gia đối với các khu vực chồng lấn, vả lại, nó không chỉ đơn thuần là tranh chấp về mặt luật pháp quốc tế về biên giới biển, lãnh thổ trên biển mà hơn thế nữa nó còn được đan xen với những lợi ích về địa – chính trị, về kiểm soát con đường vận tải biển chiến lược, và về khai thác các nguồn tài nguyên biển, đặc biệt là dầu mỏ.

Đọc tiếp...

Nguyễn Quang Ngọc, ĐỊA DANH TRUNG QUỐC CÁC QUẦN ĐẢO GIỮA BIỂN ĐÔNG: LỊCH SỬ MỘT THẾ KỶ CHUYỂN ĐỔI

I.    Về một số địa danh cổ

Sách báo Trung Quốc gần đây thường viện dẫn các địa danh như Trướng Hải, Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường, Thạch Đường, Cửu Nhũ Loa Châu, Thất Châu Dương... làm minh chứng cho chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo giữa Biển Đông đã có từ hàng nghìn năm trước. Các địa danh Trướng Hải, Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường, Thạch Đường, Cửu Nhũ Loa Châu thật ra chỉ là những địa danh phiếm chỉ một vùng biển đảo nguy hiểm, hư hư, ảo ảo nằm ngoài đảo Hải Nam và đương nhiên là không thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Riêng Thất Châu Dương là vùng biển đảo có thật, được ghi chép rất rõ ràng trong thư tịch và bản đồ cổ Trung Quốc, gần huyện Văn Xương của đảo Hải Nam, thì lại bị người ta cố tình mơ hồ hoá, huyền thoại hoá và đẩy nó ra tận giữa Biển Đông!.

Đọc tiếp...

Nguyễn Hồng Thao, YÊU SÁCH “ĐƯỜNG ĐỨT KHÚC 9 ĐOẠN” CỦA TRUNG QUỐC DƯỚI GÓC ĐỘ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ

Nguyễn Hồng Thao, YÊU SÁCH “ĐƯỜNG ĐỨT KHÚC 9 ĐOẠN” CỦA TRUNG QUỐC DƯỚI GÓC ĐỘ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ

Đối với những người Trung Quốc đang muốn đất nước mình là một thành viên đáng tin cậy của cộng đồng quốc tế, của Công ước về Luật biển 1982 thì việc từ bỏ "đường đứt khúc 9 đoạn" sẽ khắc phục được tình trạng mập mờ cản trở thực tiễn, tạo niềm tin với các nước hữu quan, làm cho các cuộc đàm phán phân định biển trong khu vực trở nên khách quan hơn, thúc đẩy hợp tác và phát triển.

Đọc tiếp...

Nguyễn Bá Diến, ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN TẮC VỀ THỤ ĐẮC LÃNH THỔ TRONG LUẬT QUỐC TẾ GIẢI QUYẾT HÒA BÌNH CÁC TRANH CHẤP Ở BIỂN ĐÔNG

“…Pháp luật quốc tế ghi nhận một trong những cơ sở nền tảng (nguyên tắc cơ bản) để xác lập hợp pháp danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia là:  việc xác lập chủ quyền phải dựa vào các phương thức thụ đắc lãnh thổ hợp pháp. Một phương thức thụ đắc lãnh thổ được coi là hợp pháp khi nó được tiến hành trên một đối tượng lãnh thổ phù hợp (đối tượng thụ đắc của phương thức chiếm cứ hữu hiệu là lãnh thổ vô chủ hoặc lãnh thổ bị bỏ rơi). Chủ thể xác lập danh nghĩa chủ quyền phải có tư cách quốc gia và được thực hiện theo đúng cách thức mà luật quốc tế về thụ đắc lãnh thổ đòi hỏi…”

Đọc tiếp...

Tôn Sinh Thành, QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÔNG TÁC BIÊN GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

Tôn Sinh Thành, QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÔNG TÁC BIÊN GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

 Bài viết này sẽ xem xét mối quan hệ biện chứng giữa biên giới và kinh tế. Trước hết, bài viết sẽ mổ xẻ những nội hàm kinh tế của khái niệm biên giới, khu vực biên giới, sau đó sẽ phân tích ý nghĩa kinh tế của công tác biên giới từ giai đoạn hoạch định biên giới tới quản lý biên giới. Bài viết cũng sẽ xem xét công tác biên giới trong mối quan hệ biện chứng giữa an ninh và phát triển đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa. 

Đọc tiếp...

Trần Thanh Tùng, CHÍNH TRỊ NỘI BỘ PHI-LÍP-PIN VỚI TRANH CHẤP TRƯỜNG SA

Bài viết tập trung phân tích những tác động của chính trị nội bộ đến việc hoạch định chính sách của Phi-líp-pin trong tranh chấp Trường Sa - là nơi Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Hai trường hợp nghiên cứu tình huống là Thỏa thuận thăm dò địa chấn chung giữa Việt Nam - Trung Quốc - Phi-líp-pin năm 2004/2005 và Luật đường cơ sở của Phi-líp-pin năm 2009.

Đọc tiếp...

Phạm Thùy Trang, LỢI ÍCH CỦA MỸ Ở BIỂN ĐÔNG

Phạm Thùy Trang, LỢI ÍCH CỦA MỸ Ở BIỂN ĐÔNG Các giới ở Mỹ gần đây cho là lợi ích của Mỹ bị đe dọa do tranh chấp biển Đông leo thang đồng thời quan tâm hơn tới sự cải thiện lực lượng hải quân của Trung Quốc trong khu vực.  Do đó, đã có ý kiến cho rằng chính sách “không can dự” của Mỹ không còn hoàn toàn bảo vệ lợi ích của Mỹ tại biển Đông, Mỹ cần dính líu hơn vào khu vực này. Mỹ dường như đang thay đổi từ “không can dự” tới “can dự một phần” trong chính sách đối ngoại với các nước ven biển và ASEAN tại biển Đông.
Đọc tiếp...

Nguyễn Minh Ngọc, QUAN HỆ VIỆT NAM - CAMPUCHIA VÀ VẤN ĐỀ PHÂN ĐỊNH BIÊN GIỚI BIỂN TẠI VỊNH THÁI LAN

Nguyễn Minh Ngọc, QUAN HỆ VIỆT NAM - CAMPUCHIA VÀ VẤN ĐỀ PHÂN ĐỊNH BIÊN GIỚI BIỂN TẠI VỊNH THÁI LAN

Phân định biển Việt Nam - Campuchia là một quá trình khó khăn và lâu dài do nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, hai bên có lập trường rất khác biệt về đường biên giới biển. Thứ hai, việc phân định biên giới giữa Việt Nam và Campuchia (cả trên bộ lẫn trên biển) phụ thuộc rất nhiều vào tình hình chính trị nội bộ của Campuchia và tình hình quan hệ giữa hai nước. Thứ ba, phía Campuchia muốn hoàn tất công tác phân giới cắm mốc biên giới trên bộ với Việt Nam, sau đó mới tính đến việc giải quyết biên giới biển.

Đọc tiếp...

BIỂN ĐÔNG: TÌM KIẾM MỘT DÀN XẾP PHÁP LÝ MỚI NHẰM TĂNG CƯỜNG ỔN ĐỊNH, HÒA BÌNH VÀ HỢP TÁC

BIỂN ĐÔNG: TÌM KIẾM MỘT DÀN XẾP PHÁP LÝ MỚI  NHẰM TĂNG CƯỜNG ỔN ĐỊNH, HÒA BÌNH VÀ HỢP TÁC (Nguyễn Hồng Thao & Ramses Amer)  Biển Đông từ lâu được xem là một trong những nguồn gốc chính của căng thẳng và bất ổn định trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.Có nhiều nhân tố dẫn đến thực trạng đó. Thứ nhất, vị trí địa chiến lược của biển Đông. Nhân tố nữa là những tranh chấp lãnh thổ đối với  quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cũng như  đối với các khu vực hàng hải tại biển Đông. Nhân tố thứ ba là cuộc chạy đua giành quyền kiểm soát các tài nguyên thiên nhiên tại khu vực này. Nhân tố thứ tư là sự phát triển của Luật Biển. Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

         

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 4740 khách và 1 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập



Bản đồ - Hình ảnh

HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN 3