3 - 6 - 2020 | 20:13
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home TIN THAM KHẢO NCBĐ Việc Trung Quốc rút giàn khoan ảnh hưởng như thế nào đến Việt Nam?

Việc Trung Quốc rút giàn khoan ảnh hưởng như thế nào đến Việt Nam?

Email In PDF.

Theo bà Tôn Nữ Thị Ninh, việc Trung Quốc rút giàn khoan sẽ có ít tác dụng trong việc hàn gắn các mối quan hệ song phương, “Kinh nghiệm trong quá khứ đã dạy chúng tôi rằng những hành vi của Trung Quốc thường không phù hợp, và thậm chí là đôi khi còn đi ngược lại với những lời nói của họ”

Sau hơn hai tháng hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou-981) ở Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của Việt Nam, Trung Quốc đã quyết định rút giàn khoan khổng lồ này sớm hơn một tháng so với kế hoạch mà Bắc Kinh đã tuyên bố ban đầu. Đây là tín hiệu đáng mừng trong bối cảnh quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam hết sức căng thẳng kể từ khi Bắc Kinh triển khai giàn khoan này ở vùng biển Việt Nam hồi tháng 5 vừa qua. Tuy nhiên, theo giới chuyên gia, việc Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương-981 cũng có những ảnh hưởng nhất định đến sự thay đổi ở Việt Nam.

Quyết định của Trung Quốc về việc rút một giàn khoan dầu gây nhiều tranh cãi ra khỏi các vùng biển tranh chấp ở Biển Đông có thể gây trở ngại đối với những nỗ lực của Việt Nam nhằm tìm kiếm những liên minh mới. Chỉ mới cách đây 10 tháng, trong một chuyến thăm Bắc Kinh của Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị tới Bắc Kinh, ông Phạm Quang Nghị đã được các quan chức cấp cao Trung Quốc chào đón trong khi ca ngợi tầm quan trọng của việc tăng cường củng cố “mối quan hệ truyền thống” với Trung Quốc. Tuy nhiên, nhiều thứ đã thay đổi mạnh mẽ kể từ khi đó. Vào ngày 20/7, vị Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - cơ quan quyết sách của Việt Nam – dẫn đầu một đoàn đại biểu đi thăm một bên tham gia quan trọng khác trong khu vực: Đó là Mỹ. Trong một chuyến đi được một chuyên gia quan sát mô tả là “chuyến công du trinh sát” phi chính thức, ông Phạm Quang Nghị muốn đánh giá xem Washington sẵn sàng đi xa đến đâu trong việc giúp Hà Nội ngăn cản một Trung Quốc đang ngày càng quyết liệt trong các tranh chấp, trong đó có vụ hạ đặt một giàn khoan dầu và vấn đề chủ quyền cũng như tự do hàng hải ở Biển Đông. 

Chuyến công du của ông Phạm Quang Nghị nêu bật những sự lựa chọn khó khăn mà Việt Nam phải đối mặt kể từ khi Trung Quốc bất ngờ triển khai giàn khoan Hải Dương-981 ở ngay ngưỡng cửa nhà của Việt Nam hồi tháng 5 vừa qua, gây ra cuộc xung đột tồi tệ nhất giữa hai đồng minh tư tưởng này kể từ khi xảy ra một cuộc chiến tranh biên giới chớp nhoáng vào năm 1979. Và quyết định của Bắc Kinh về việc rút giàn khoan này vào hôm 15/7 vừa qua đã không chấm dứt được cuộc tranh chấp này. 

Kể từ hồi tháng 5, các chuyên gia phân tích đã nhấn mạnh đến mong muốn đang ngày càng mãnh liệt ở Hà Nội về việc “thoát Trung”, cả về mặt chính trị lẫn mặt kinh tế. Thế nhưng, điều đó sẽ không diễn ra nhanh chóng. Một số người trong chính phủ và công chúng Việt Nam nhìn thấy “trong cái rủi có cái may” đối với cuộc khủng hoảng giàn khoan này: Vụ việc này có thể dẫn đến khả năng hành động nhiều hơn trong việc thúc đẩy các cuộc cải cách kinh tế đã được chờ đợi từ lâu, ví dụ như “kế hoạch chủ lực” của chính phủ trong việc trở thành một quốc gia hiện đại, công nghiệp hóa vào năm 2020. Nó cũng có thể gây nguy hiểm đến sự ủng hộ các thỏa thuận thương mại tự do với các quốc gia phương Tây. Những người ủng hộ những sự thay đổi này lo ngại việc Trung Quốc sớm rút giàn khoan Hải Dương-981 sẽ đồng nghĩa với việc mất đi một “chất xúc tác.” 

Việc Trung Quốc triển khai giàn khoan Hải Dương-981 đã khoét sâu sự bất đồng ở Việt Nam về việc làm thế nào để cân bằng mối quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, hai cường quốc đang tranh giành ảnh hưởng trong khu vực. Liên quan vấn đề này, Giáo sư Carl Thayer, một chuyên gia về Việt Nam tại Đại học New South Wales thuộc Học viện Quốc phòng Australia nhận định: “Ở Việt Nam, ngọn lửa đang bùng cháy mãnh liệt nhằm tách khỏi Trung Quốc để hướng sang Mỹ. Tôi không nghĩ rằng điều đó sẽ xảy ra, nhưng giờ đây đó là một lực lượng rất rõ ràng”. Cả Giáo sư Carl Thayer và một nguồn tin gần gũi với Bộ Ngoại giao Việt Nam nói rằng chuyến công du của ông Phạm Quang Nghị tới Washington không liên quan đến các cuộc gặp cấp cao chính thức, nhưng sẽ tạo ra những cơ hội cho Mỹ và Việt Nam để thăm dò mối quan hệ giữa hai nước. Giáo sư Carl Thayer nhấn mạnh: “Chuyến công du này là một thứ gì đó khác. Nó sẽ tạo ra cơ hội cho Mỹ nắm được quan điểm của những người đang nắm quyền, và tương tự như vậy, chuyến thăm cũng tạo cơ hội cho Việt Nam thấy được những gì mà Mỹ sẽ sẵn sàng thực hiện. Đó là một chuyến đi trinh sát”. 

Sự chia rẽ giữa Trung Quốc và Việt Nam đã bị nới rộng sau khi các cuộc gặp hồi tháng 6 vừa qua giữa các quan chức Việt Nam và Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì - quan chức cấp cao nhất phụ trách chính sách đối ngoại của Trung Quốc – thất bại trong việc làm nồng ấm mối quan hệ băng giá giữa hai quốc gia. 

Theo Phó Giáo sư Edmund Malesky, một chuyên gia về kinh tế chính trị thuộc Đại học Duke ở bang North Carolina của Mỹ, các cuộc gặp với ông Dương Khiết Trì đã khiến nhiều người ở Hà Nội thất vọng, đồng thời cho thấy Việt Nam phải di chuyển sang một hướng khác. Phó Giáo sư Malesky, người đã và đang làm việc trong một dự án của Chính phủ Việt Nam liên quan đến Trung Quốc, nói trước khi giàn khoan Hải Dương-981 được rút đi, rằng “một nhóm các nhà hoạch định chính sách, gồm những người đang thúc đẩy việc tăng cường mối quan hệ với phương Tây, giờ đây đang ở một vị thế vững mạnh hơn”. Theo chuyên gia này, Việt Nam đã đe dọa theo đuổi các hành động pháp lý nhằm đáp lại các hành xử gần đây của Trung Quốc. 

Bà Tôn Nữ Thị Ninh, một cựu Đại sứ và là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam, nói rằng các nhà hoạch định chính sách ở Hà Nội đang cân nhắc hai lựa chọn pháp lý. Họ có thể thách thức những yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông tại Tòa án Công lý Quốc tế, như Philippines đã làm. Hoặc họ cũng có thể quyết định tìm kiếm sự phân xử của trọng tài quốc tế, một lựa chọn nhanh chóng hơn, cũng sẽ gây ra ít tác động hơn. 

Nhiều chuyên gia phân tích đã cảnh báo rằng những hậu quả đối với tăng trưởng của Việt Nam có thể sẽ rất tai hại nếu như Trung Quốc lựa chọn biện pháp trả đũa về mặt kinh tế. Đến nay Trung Quốc vẫn chưa áp đặt sự trừng phạt nào. Tuy nhiên, có tin nói rằng lượng hàng nông nghiệp mà Trung Quốc nhập khẩu của Việt Nam đã sụt giảm. Trung Quốc đã cấm các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước tham gia đấu thầu những hợp đồng mới ở Việt Nam. Và số lượng khách du lịch Trung Quốc vào Việt Nam cũng giảm 29,5% trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 6 vừa qua. Cùng với nhiều quốc gia khác trong khu vực, Việt Nam phụ thuộc nặng nề vào Trung Quốc. Theo các số liệu từ hải quan Việt Nam, trong năm ngoái, Việt Nam đã nhập khẩu lượng hàng hóa trị giá 36,95 tỷ USD từ Trung Quốc, tương đương 28% tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam. Cũng trong năm ngoái, Việt Nam đã xuất khẩu lượng hàng hóa trị giá 13,3 tỷ USD sang Trung Quốc – tương đương 10% tổng giá trị hàng xuất khẩu của Việt Nam. 

Tuy nhiên, Chính phủ Việt Nam hiện đang tìm kiếm các biện pháp để giảm bớt sự phụ thuộc như vậy. Phó Giáo sư Malesky nói rằng một số chuyên gia nghiên cứu ở Việt Nam đang nghiên cứu những tác động có thể xảy ra nếu như mối quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Quốc xấu đi. Ông Malesky nhấn mạnh: “Đó là một dấu hiệu khá tốt đẹp, rằng Việt Nam đang chuẩn bị cho những gì có thể xảy ra”. Trong khi đó, bà Tôn Nữ Thị Ninh nói rằng những ý kiến của công chúng cũng đã buộc Chính phủ Việt Nam phải cố gắng tìm cách điều chỉnh lại chính sách thương mại của họ. Bà Tôn Nữ Thị Ninh nêu rõ: “Chính phủ giờ đây đang công nhận điều này; công chúng nói chúng tôi quá phụ thuộc vào Trung Quốc. Dĩ nhiên chúng tôi cần có các mối quan hệ tốt nhất có thể với nước láng giềng lớn hơn. Chúng tôi là người thực tế”. Mặc dù vậy, bà Tôn Nữ Thị Ninh cũng đặt câu hỏi: “Tuy nhiên, vấn đề là, để làm được điều đó, trong bối cảnh trước một nước Trung Quốc quyết liệt, điều gì sẽ là tốt nhất” cho Việt Nam. 

Bà Tôn Nữ Thị ninh cho biết nhiều người ở Việt Nam tin rằng Việt Nam nên gửi đi một thông điệp kép tới Trung Quốc, rằng “Việt Nam cam kết thực hiện hòa bình và duy trì các mối quan hệ lành mạnh với Trung Quốc”. Tuy nhiên, theo bà Tôn Nữ Thị Ninh, “chúng tôi đồng thời cũng nên gửi đi một thông điệp rằng kinh tế và các lợi ích khác không thể quan trọng hơn những nguyên tắc về chủ quyền lãnh thổ, độc lập dân tộc và sự tôn trọng lẫn nhau”. 

Theo Phó Giáo sư Malesky, đối với những người ủng hộ các mối quan hệ kinh tế gần gũi hơn với phương Tây, cuộc khủng hoảng với Trung Quốc đã trở thành một điều có lợi, dẫn đến sự quan tâm nhiều hơn tới việc thúc đẩy các cuộc thương lượng do Mỹ dẫn đầu về thỏa thuận thương mại tự do TPP.

Tuy nhiên, động thái mang tính chất hợp tác của Trung Quốc trong việc rút giàn khoan Hải Dương-981 có thể ngăn cản những nỗ lực này. Liên quan vấn đề này, Giáo sư Carl Thayer nhận định: “Những hành động của Trung Quốc đã thực sự gây khó khăn cho Việt Nam. Việt Nam sẽ kiềm chế việc theo đuổi một vụ kiện pháp lý để ngăn chặn sự xuống cấp về mặt ngoại giao. Những hành động của Trung Quốc sẽ ảnh hưởng đến các nhà lãnh đạo ở Việt Nam, những người ủng hộ việc tiến gần hơn tới Mỹ và Nhật Bản”. Giáo sư Carl Thayer cho rằng sự thay đổi phương hướng khéo léo của Trung Quốc cũng sẽ vô hiệu hóa ở một mức độ nào đó bất kỳ nỗ lực nào có thể có nhằm tạo ra một vấn đề nằm ngoài sự quyết liệt của Trung Quốc, tại Diễn đàn Khu vực Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào tháng tới - sự kiện sẽ được tổ chức ở Myanmar. 

Tuy nhiên, bà Tôn Nữ Thị Ninh nói rằng việc Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương-981 sẽ có ít tác dụng trong việc hàn gắn các mối quan hệ song phương. Bà Tôn Nữ Thị Ninh nói rõ: “Kinh nghiệm trong quá khứ đã dạy chúng tôi rằng những hành vi của Trung Quốc thường không phù hợp, và thậm chí là đôi khi còn đi ngược lại với những lời nói của họ”. 

Bộ Ngoại giao Trung Quốc và công ty dầu mỏ điều hành giàn khoan Hải Dương-981, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNPC), nói rằng họ rút giàn khoan Hải Dương-981 là do những nhiệm vụ thăm dò ban đầu đã được hoàn thành. Các học giả Trung Quốc cũng phủ nhận rằng quyết định rút giàn khoan này là kết quả của bất kỳ sức ép ngoại giao nào từ Việt Nam hoặc Mỹ, quốc gia mà Thượng viện của họ đã thông qua một nghị quyết vào hôm 10/7, trong đó lên án hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông. Tuy nhiên, theo ông Khang Lâm, một chuyên gia nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Nam Hải (một viện nghiên cứu quốc gia của Trung Quốc), việc rút giàn khoan Hải Dương-981 chỉ là tạm thời. Với việc phát hiện một “lượng lớn” trữ lượng dầu mỏ và khí đốt khả dĩ, ông Khang Lâm cho rằng mặc dù Trung Quốc chưa sẵn sàng tiến hành các hoạt động thương mại ở vùng biển mà giàn khoan Hải Dương-981 vừa khoan thăm dò, nhưng cuối cùng thì những giàn khoan dầu của Trung Quốc cũng có thể sẽ quay trở lại vùng biển này. Chuyên gia Khang Lâm nhấn mạnh: “Việt Nam sẽ phải cố gắng để quen với việc này”. 

Theo các chuyên gia phân tích, ngay cả trong trường hợp Việt Nam quyết định tiếp tục các nỗ lực nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc kinh tế của mình vào Trung Quốc, thì thách thức lớn nhất nằm ở việc tìm ra một nguồn nguyên liệu thay thế để “tiếp liệu” cho lĩnh vực sản xuất của Việt Nam. Nguyễn Hà, Giám đốc Quản lý chi nhánh Việt Nam của Tập đoàn Bower châu Á (Bower Group Asia) cho biết trong số hàng hóa Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc trong năm ngoái, 33% là nguyên liệu và các thiết bị quan trọng đối với lĩnh vực sản xuất của Việt Nam. Giám đốc Nguyễn Hà nhấn mạnh: “Kim ngạch xuất khẩu sẽ sụt giảm, trong khi các nhà sản xuất trong nước sẽ có một thời gian khó khăn trong việc tìm kiếm các nguồn nguyên liệu nhập khẩu thay thế nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc”. 

Nếu như các cuộc thương lượng TPP thành công, thỏa thuận thương mại tự do khu vực này cũng sẽ buộc Việt Nam phải tìm kiếm các nhà cung cấp nguyên liệu sản xuất khác. Theo thỏa thuận này, chỉ có các sản phẩm được sản xuất từ những nguyên liệu được cung cấp bởi các nước thành viên TPP mới có thể được hưởng mức thuế quan thấp nhất khi được xuất khẩu tới các nước thành viên thỏa thuận. Trung Quốc không phải là một bên tham gia các cuộc đàm phán này. Về TPP, Giám đốc Nguyễn Hà nhận định: “Đây thực sự là một cơ hội cho Việt Nam để giảm sự phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc, và là điều mà Việt Nam không nên bỏ lỡ”. 

Khi khu vực ngày càng cảnh giác với thái độ quyết liệt của Trung Quốc, Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất đang tìm cách giảm bớt sự phụ thuộc của mình vào quốc gia láng giềng này. Tuy nhiên, một số người vẫn duy trì thái độ hoài nghi về việc liệu những nỗ lực này có đạt được thành công hay không. Giáo sư Nick Bisley, một chuyên gia về các mối quan hệ quốc tế tại Đại học La Trobe ở Australia nhận định: “Khả năng thoát ra khỏi quỹ đạo kinh tế của Trung Quốc là điều khó khăn hơn so với việc di chuyển vào trong quỹ đạo của Mỹ về mặt chính trị. Tuy nhiên, lợi ích của việc xây dựng các mối quan hệ với Mỹ không lớn như họ nghĩ, và tôi cho là nguy cơ của việc duy trì sự phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc không lớn như nhiều người nghĩ”./. 

Theo “SCMP” (ngày 17/7)

Vũ Hiền (gt)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bộ Tài nguyên và Môi trường: Phát động tổ chức các hoạt động Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam và hưởng ứng Ngày Đại dương Thế giới năm 2020

Bộ Tài nguyên và Môi trường: Phát động tổ chức các hoạt động Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam và hưởng ứng Ngày Đại dương Thế giới năm 2020

Mới đây, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) đã ban hành công văn số 2556/BTNMT-TCBHĐVN gửi các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc tổ chức các hoạt động Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam và hưởng ứng Ngày Đại dương Thế giới năm 2020.

Đọc tiếp...

Tài liệu tuyên truyền: Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm 2020

Tài liệu tuyên truyền: Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm 2020

Chủ đề Ngày Đại dương Thế giới năm 2020 do Liên hợp quốc lựa chọn là là “Đổi mới vì một đại dương bền vững”. Tại Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường lựa chọn chủ đề hưởng ứng Ngày Đại dương Thế giới và Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm 2020 là “Đổi mới để phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam”.

Đọc tiếp...

Giải mã chiến lược cơ hội của Trung Quốc trong bối cảnh đại dịch COVID-19

Giải mã chiến lược cơ hội của Trung Quốc trong bối cảnh đại dịch COVID-19

Đại dịch đã không làm suy giảm các hoạt động địa chính trị - trên thực tế, dịch bệnh dường như còn làm gia tăng những căng thẳng vốn có. Việc hiểu rõ liệu Trung Quốc có thay đổi chính sách đối ngoại hay không, và nếu có thì như thế nào, đóng vai trò trọng yếu trong việc đánh giá những diễn biến trong khu vực ngoại vi của Trung Quốc và những dự định tiếp theo của Bắc Kinh.

Đọc tiếp...

Đối đầu không giúp Trung Quốc tại Biển Đông

Đối đầu không giúp Trung Quốc tại Biển Đông

Đại dịch COVID-19 là cơ hội cho nỗ lực của Trung Quốc nhằm kéo các nước Đông Nam Á lại gần hơn về phía mình. Vì vậy, trong việc xử lý xung đột ở Biển Đông, hành động cho để nhận và một cử chỉ hào phóng nào đó có thể là cách thức hữu hiệu để Bắc Kinh giành được lòng tin và sự tôn trọng từ các nước láng giềng nhỏ hơn.

Đọc tiếp...

Khả năng cuộc chiến Biển Đông định hình lại châu Á

Khả năng cuộc chiến Biển Đông định hình lại châu Á

Một cuộc chiến có thể nổ ra bất kỳ lúc nào ở Biển Đông có thể định hình lại châu Á nói riêng và thế giới nói chung, trong bối cảnh cả Mỹ lẫn Trung Quốc đều đang chuẩn bị cho kịch bản này.

Đọc tiếp...

Tiền đồn quân sự Trung Quốc ở Biển Đông-Thách thức của cộng đồng quốc tế

Tiền đồn quân sự Trung Quốc ở Biển Đông-Thách thức của cộng đồng quốc tế

Trong khi thế giới đang chật vật đương đầu với đại dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona (COVID-19) gây ra, Trung Quốc tiếp tục củng cố các đảo mà nước này tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông, mà không có bất kỳ phản ứng nào từ cộng đồng quốc tế.

Đọc tiếp...

ASEAN vật lộn với hai mối đe dọa: Biển Đông và COVID-19

ASEAN vật lộn với hai mối đe dọa: Biển Đông và COVID-19

Trong bối cảnh các nước trên thế giới phải đương đầu với đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19, chính phủ các nước Đông Nam Á không những phải vật lộn đối phó với đại dịch mà còn phải đối phó với những mối đe dọa vốn tồn tại dai dẳng trên mặt trận biển.

Đọc tiếp...

COVID-19 làm tăng rủi ro xung đột tại Biển Đông

COVID-19 làm tăng rủi ro xung đột tại Biển Đông

Mỹ và Trung Quốc đang sử dụng quân đội của họ để phát đi tín hiệu rằng trong đại dịch COVID-19, sẽ không bên nào lơ là cảnh giác ở Đài Loan và Biển Đông.

Đọc tiếp...

COVID 19 - Nhân tố tiềm tàng làm thay đổi cuộc chơi ở Biển Đông

COVID 19 - Nhân tố tiềm tàng làm thay đổi cuộc chơi ở Biển Đông

Vai trò "nhân tố tiềm tàng làm thay đổi cuộc chơi trên toàn cầu" của đại dịch viêm đường hô hấp cấp do virus corona chủng mới (COVID-19) có thể sẽ được bộc lộ một cách đầy đủ tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Mỹ và Philippines phản đối Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam

Mỹ và Philippines phản đối Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam

Ngày 2/4, tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường tại vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam thì bị tàu hải cảnh Trung Quốc ngăn cản và đâm chìm. Hành động này đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ Việt Nam và cộng đồng quốc tế. Bộ Ngoại giao Mỹ và Philippines đã đưa ra tuyên bố phản đối và kêu gọi Trung Quốc hành xử phù hợp với luật pháp quốc tế.

Đọc tiếp...

Ba vấn đề Mỹ đối mặt khi tập hợp liên minh chống Trung Quốc

Ba vấn đề Mỹ đối mặt khi tập hợp liên minh chống Trung Quốc

Hiện là thời điểm khó khăn đối với các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương khi họ bị cuốn vào cuộc cạnh tranh ngày càng gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc. Một đồng minh lâu năm của Mỹ là Philippines đang thay đổi cách tiếp cận với Washington và Bắc Kinh.

Đọc tiếp...

Cơ chế tham vấn Trung Quốc-Malaysia và tác động đối với Biển Đông

Cơ chế tham vấn Trung Quốc-Malaysia và tác động đối với Biển Đông

Tuyên bố gần đây về cơ chế tham vấn song phương giữa Trung Quốc và Malaysia về vẫn đề biển đã làm dấy lên những nghi ngại liên quan vấn đề Biển Đông mà hai bên có yêu sách lấn.

Đọc tiếp...

Khai thác chung với Trung Quốc ở Biển Đông - Hiểm họa và lợi ích

Khai thác chung với Trung Quốc ở Biển Đông - Hiểm họa và lợi ích

Tiến triển nào trong hoạt động hợp tác ở vùng biển tranh chấp chỉ diễn ra nếu Trung Quốc chấp nhận thỏa hiệp với các quốc gia yêu sách khác bằng cách công nhận phán quyết ngày 12/7/2016 dựa trên công ước UNCLOS khi Philippines là bên thắng kiện.

Đọc tiếp...

Viễn cảnh "ác mộng" trên Biển Đông từ quan điểm của Nhật Bản

Viễn cảnh

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe lo ngại rằng Biển Đông có thể trở thành một "ao nhà của Bắc Kinh",... một vùng biển đủ sâu để Hải quân của Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) có thể triển khai các tàu ngầm tấn công hạt nhân, có khả năng phóng các tên lửa mang đầu đạn hạt nhân.

Đọc tiếp...

Trung Quốc sẽ làm gì với các đảo đá trên Biển Đông?

Trung Quốc sẽ làm gì với các đảo đá trên Biển Đông?

Trung Quốc sẽ tiếp tục thâu tóm các thực thể ở Biển Đông và sẽ sử dụng các căn cứ này để phô trương sức mạnh và thực hiện hành vi đe dọa. Liệu Trung Quốc có thực sự bảo vệ các thực thể cũng như có kế hoạch gì sắp tới?

Đọc tiếp...

Châu Âu “quyết tâm can dự” vào châu Á-Thái Bình Dương và Biển Đông?

Châu Âu “quyết tâm can dự” vào châu Á-Thái Bình Dương và Biển Đông?

Theo giới phân tích, các nước lớn ở châu Âu đang tìm cách tăng cường sự hiện diện của họ ở châu Á-Thái Bình Dương bằng các chiến dịch tự do hàng hải trong bối cảnh lo ngại căng thẳng gia tăng ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Trung Quốc và Philippines nhận được gì khi cùng khai thác tài nguyên?

Trung Quốc và Philippines nhận được gì khi cùng khai thác tài nguyên?

Với thoả thuận khai thác dầu và khí chung, Trung Quốc được chia lợi nhuận và có chỗ đứng ở Bãi Cỏ Rong trong khi công nhận chủ quyền của Philippines.

Đọc tiếp...

Những "giới hạn đỏ" ở Biển Đông

 Những

Trong bối cảnh cuộc chiến thương mại vẫn rất căng thẳng, quân đội Mỹ và Trung Quốc gần đây liên tục có các hành động "ăn miếng trả miếng" tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Cuộc gặp Tập Cận Bình-Duterte: Màn phô diễn về Biển Đông?

Cuộc gặp Tập Cận Bình-Duterte: Màn phô diễn về Biển Đông?

Chuyến công du Bắc Kinh lần thứ 5 của ông Duterte ít nhất lẽ ra phải là thời điểm thể hiện sự dũng cảm của Philippines - và tạo ra một sự thay đổi đối với trục chính sách đối ngoại hướng tới Trung Quốc của ông, khi tất cả những năm tháng cúi đầu phục tùng trước đây lẽ ra phải giúp Philippines có được một vị thế tốt hơn trên bàn đàm phán.

Đọc tiếp...

Trung Quốc tìm cách mở rộng EEZ trên Biển Hoa Đông

Trung Quốc tìm cách mở rộng EEZ trên Biển Hoa Đông

Trong khi Trung Quốc và Nhật Bản tranh cãi về phân định biển, các tàu nghiên cứu Trung Quốc hoạt động trên thực địa để củng cố yêu sách của Bắc Kinh ở Biển Hoa Đông.

Đọc tiếp...

Cuộc tập trận Mỹ-ASEAN dưới góc nhìn của giới phân tích

Cuộc tập trận Mỹ-ASEAN dưới góc nhìn của giới phân tích

Việc Mỹ và các quốc gia thành viên ASEAN lần đầu tiên tập trận hàng hải chung có hàm ý và tác động như thế nào trong bối cảnh căng thẳng trên biển ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương gia tăng hiện nay?

Đọc tiếp...

Doanh nghiệp Trung Quốc củng cố vai trò trên Biển Đông?

Doanh nghiệp Trung Quốc củng cố vai trò trên Biển Đông?

Theo một nghiên cứu mới đăng trên ISEAS, các doanh nghiệp (SOE) của Bắc Kinh đang đóng vai trò ngày một lớn trong hoạt động xây dựng trên Biển Đông và tìm cách củng cố vị thế vững chắc trong những năm sắp tới. Nghiên cứu trên đã cho thấy Bắc Kinh đang khuyến khích các doanh nghiệp này hoạt động tại đây.

Đọc tiếp...

Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tại Đối thoại Shangri La 2018

Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tại Đối thoại Shangri La 2018

Đối thoại Shangri La thường niên lần thứ 17 ở Singapore năm nay đã không gây thất vọng với số lượng Bộ trưởng Quốc phòng và các quan chức cấp cao tham dự đạt mức kỷ lục. Trong đó, nội dung địa chiến lược của khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương nổi lên là chủ đề trọng tâm của hội nghị này.

Đọc tiếp...

Philippines có thể cùng khai thác với Trung Quốc ở Biển Đông?

Philippines có thể cùng khai thác với Trung Quốc ở Biển Đông?

Chuyên gia Batongbacal cho rằng bài báo năm 1999 mà Ngoại trưởng Cayetano đề cập không hề phản ánh tình hình ở Philippines và Trung Quốc sau khi Tòa Trọng tài phán quyết, bởi bài báo này đã được viết cách đây 19 năm.

Đọc tiếp...

Biển Đông vẫn "làm nóng" Đối thoại Shangri-La 2018

Biển Đông vẫn

Hội nghị thượng đỉnh rất được mong chờ giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un đã không làm lu mờ Đối thoại Shangri-La. Tranh chấp Biển Đông đã trở thành vấn đề nóng và được đề cập đến trong nhiều phát biểu của các Bộ trưởng và tại các phiên thảo luận.

Đọc tiếp...

Tác động của không gian Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đối với ASEAN

Tác động của không gian Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đối với ASEAN

Mặc dù Tổng thống Mỹ đã nhiều lần ám chỉ đến khái niệm không gian Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong các bài phát biểu cuối năm 2017, và khái niệm này có liên quan đến Chiến lược An ninh Quốc gia và Chiến lược Quốc phòng, nhưng “Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và cởi mở” cũng chỉ được các nước trong khu vực đón nhận với sự dè dặt.

Đọc tiếp...

Triển vọng cho hòa bình ở Biển Đông

Triển vọng cho hòa bình ở Biển Đông

Mặc dù Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông sẽ mất nhiều thời gian để hiện thực hóa, song các bên cũng cần phải suy nghĩ nghiêm túc về triển vọng của Bộ Quy tắc về việc Chạm trán Bất ngờ trên biển dành cho các lực lượng hàng không và dưới mặt biển.

Đọc tiếp...

Giới phân tích: Mỹ cần ngăn chặn Trung Quốc ở Biển Đông

Giới phân tích: Mỹ cần ngăn chặn Trung Quốc ở Biển Đông

Do vấn đề Triều Tiên đang phủ sóng các báo xuất bản ngoài châu Á, những diễn biến quan trọng liên quan đến tình hình Biển Đông - nguyên nhân chính gây căng thẳng ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trước khi Triều Tiên bắt đầu thử tên lửa tầm xa và vũ khí hạt nhân - đã không được chú ý một cách đầy đủ.

Đọc tiếp...

Kế hoạch thăm dò hợp tác dầu khí giữa Trung Quốc và Philippines đối mặt nhiều thách thức

Kế hoạch thăm dò hợp tác dầu khí giữa Trung Quốc và Philippines đối mặt nhiều thách thức

Trong bối cảnh mối quan hệ giữa hai nước đang phát triển, Trung Quốc và Philippines mới đây đã củng cố thêm bằng một thỏa thuận chia sẻ tài nguyên tại Biển Đông. Chủ đề này được ông Tập và Tổng thống Duterte thảo luận tại cuộc gặp song phương, bên lề Diễn đàn Bác Ngao.

Đọc tiếp...

Malaysia có nên đổi tên một phần Biển Đông?

Malaysia có nên đổi tên một phần Biển Đông?

Quan điểm trước đây của Malaysia về vấn đề Biển Đông dưới thời chính quyền của Thủ tướng Najib Razak có thể được tóm gọn tốt nhất bằng cụm từ là cách tiếp cận “chắc ăn” nhằm bảo vệ những lợi ích của Malaysia vừa duy trì mối quan hệ với Bắc Kinh.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 5113 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin