Tiền đồn quân sự Trung Quốc ở Biển Đông-Thách thức của cộng đồng quốc tế

Thứ tư, 13 Tháng 5 2020 12:49
In

Trong khi thế giới đang chật vật đương đầu với đại dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona (COVID-19) gây ra, Trung Quốc tiếp tục củng cố các đảo mà nước này tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông, mà không có bất kỳ phản ứng nào từ cộng đồng quốc tế.

Ngay cả vụ đâm chìm tàu cá của Việt Nam cũng chỉ xuất hiện phản ứng tối thiểu từ cộng đồng quốc tế, cho dù Philippines và quân đội Mỹ đã đưa ra tuyên bố phản đối vụ việc này.

Trước đại dịch COVID-19, chiến lược “chiến tranh không khói súng” của Trung Quốc đã dẫn đến việc “gần như bình thường hóa” sự tăng cường sức mạnh quân sự và các yêu sách “đường chín đoạn” của Bắc Kinh trên Biển Đông. Kể từ năm 2013, “Vạn lý Trường Thành Cát” (do cựu Chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, Đô đốc Harry Harris đặt tên) thậm chí đang ngày càng trở nên ghê gớm hơn. Cùng với việc bất tuân thủ phán quyết năm 2016 của Tòa trọng tài thường trực (PCA) ở La Hay liên quan tới việc bác bỏ yêu sách “đường chín đoạn”, rõ ràng Trung Quốc sẽ tiếp tục kiên quyết đưa ra các yêu sách của họ.

Bất chấp điều này, Mỹ, Liên hợp quốc (LHQ) và Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) có thể cùng nhau nhanh chóng hành động để ngăn chặn việc Trung Quốc tiếp tục quân sự hóa các đảo mà nước này tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông.

Ở thời điểm hiện tại, Trung Quốc đã có các đường băng và hàng chục nhà chứa máy bay chiến đấu trên một số đảo, cũng như tên lửa hành trình chống hạm, hệ thống phòng không và phòng thủ tên lửa. Trung Quốc đã tận dụng những hòn đảo này để khởi động các chiến dịch gây sức ép ở quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và thậm chí cả biển Natuna (do Indonesia tuyên bố chủ quyền).

Mặc dù họ đã kiềm chế việc triển khai hàng loạt máy bay chiến đấu đến các căn cứ trên đảo, nhưng trong trường hợp xảy ra một cuộc xung đột, các phi đội chiến đấu cơ có khả năng nhanh chóng tổ chức và sử dụng các cơ sở quân sự này làm căn cứ tiền tiêu. Sau đó, Trung Quốc có thể sử dụng các hệ thống phòng không, phòng thủ tên lửa và chống hạm được lắp đặt gần đây để hạn chế các cuộc xâm nhập vào Biển Đông, qua đó ngăn chặn hữu hiệu kẻ thù khi bắt đầu chiến sự. Trên thực tế, những hòn đảo này nên được coi là mối đe dọa hiện hữu đối với Đài Loan, vì chúng giảm nhẹ sự răn đe do Mỹ lãnh đạo nhằm vào nỗ lực thống nhất đảo Đài Loan bằng vũ lực của Đại lục.

Mỹ, LHQ và ASEAN nên hợp tác để đối phó các công sự này của Trung Quốc trên Biển Đông, vì mỗi bên đều bị tổn hại nếu không hành động. Mỹ nên khuyến khích hợp tác giữa các quốc gia ASEAN và xây dựng các mối quan hệ dân sự, kinh tế, ngoại giao và quân sự mạnh mẽ hơn với mỗi nước để giúp giảm bớt áp lực từ Trung Quốc cũng như trấn an các nước này bằng sự hỗ trợ của Mỹ. Nhiều quốc gia Đông Nam Á đã dự đoán và hy vọng Mỹ và LHQ sẽ thực thi hơn nữa phán quyết năm 2016 của PCA, và một mối quan tâm lâu dài hơn trong khu vực này sẽ mang lại một sự thay thế đáng hoan nghênh đối với “người hàng xóm nguy hiểm” ở phương bắc.

Các hòn đảo này tạo điều kiện cho Trung Quốc thiết lập các căn cứ, qua đó có thể hăm dọa các quốc gia ASEAN từ bỏ yêu sách của mình hoặc phục tùng các yêu sách của Bắc Kinh. Các lực lượng bán quân sự và tàu cá Trung Quốc lợi dụng các căn cứ trên đảo làm nơi tập trung để quấy rối và thậm chí đánh chìm các tàu thương mại của các nước ASEAN. Cần có một phản ứng phối hợp của cộng đồng quốc tế để hạn chế sự thành công của Học thuyết Monroe phiên bản Trung Quốc trên toàn châu Á.

LHQ hiện có vai trò sống còn trong việc đảm bảo rằng Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế và tôn trọng chủ quyền của các quốc gia thành viên khác. LHQ cần phải có hành động gây sức ép đối với bất kỳ quốc gia nào không tuân thủ luật pháp hoặc không ủng hộ hệ thống quốc tế. Sự ủng hộ và tham gia ngày càng gia tăng của LHQ trong các hoạt động tuần tra tự do hàng hải sẽ giúp tạo áp lực quốc tế bền vững đối với Trung Quốc để chấm dứt việc nước này tiếp tục quân sự hóa Biển Đông.

Đàm phán song phương luôn đặt các nước vào thế bất lợi trước Trung Quốc, song các cuộc đàm phán đa phương sẽ giúp ASEAN có thêm sức mạnh thương lượng. Trung Quốc sẽ cố gây áp lực với từng quốc gia, nhưng nếu các thành viên ASEAN hợp tác với nhau, họ có thể khiến các cuộc đàm phán đa phương tăng thêm áp lực đối với Trung Quốc, qua đó ngăn chặn sự quấy rối và xâm lấn lãnh thổ hơn nữa của Bắc Kinh.

Indonesia và Việt Nam có thể rất phù hợp để đóng vai trò lãnh đạo trong việc điều phối một phản ứng thống nhất của ASEAN với Washington. Mỹ có thể hạn chế việc mở rộng tầm ảnh hưởng của Trung Quốc ở châu Á bằng một thỏa thuận đa phương với Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông Cổ và các quốc gia ASEAN, tương tự như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ban đầu được thực thi vào năm 2015, nhưng với nhiều thành tố chính trị và quân sự hơn. Nếu không có một sáng kiến ASEAN thống nhất được hỗ trợ bởi Mỹ và các đồng minh chủ chốt, các quốc gia châu Á sẽ phải đối mặt với tình trạng khó xử khi cố gắng chống lại các nỗ lực gây áp lực, hăm dọa của Trung Quốc. Trước đại dịch COVID-19, điều quan trọng hơn bao giờ hết là Mỹ cần phải ủng hộ ASEAN vì Trung Quốc đang chờ đợi để nhanh chóng “giúp đỡ” trong khi củng cố tầm ảnh hưởng và thắt chặt sự kìm kẹp đối với khu vực này.

Hiện Mỹ, LHQ và ASEAN đều bị đe dọa bởi trạng thái gần như bình thường trong hành động xâm lược và quân sự hóa các đảo của Trung Quốc trên Biển Đông. Cần phải có một nỗ lực phối hợp và thống nhất để chống lại các tác động đang diễn ra của các căn cứ đảo này đối với thương mại quốc tế, luật pháp quốc tế và an ninh Đông Nam Á. Nếu việc Trung Quốc mở rộng vòng ảnh hưởng và dấu tích quân sự ở Biển Đông không bị ngăn chặn một cách hiệu quả, thì Mỹ sẽ mất ảnh hưởng đáng kể ở châu Á và gặp khó khăn trong việc chống lại chủ nghĩa phiêu lưu kinh tế và quân sự của Trung Quốc, qua đó gây nguy hiểm cho các đồng minh chủ chốt cũng như những lợi ích của chính nước Mỹ.

David Geaney là Đại úy Không quân Hoa Kỳ, từng là diễn giả về sự trỗi dậy của Trung Quốc cho Hiệp hội Nghiên cứu Quốc tế. Bài viết được đăng trên DefenseNews

Minh Anh (gt)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: