18 - 2 - 2019 | 11:26
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home KINH TẾ/HỘI NHẬP Kịch bản kinh tế vĩ mô của thế giới 2015-2016

Kịch bản kinh tế vĩ mô của thế giới 2015-2016

Email In PDF.

Năm 2015, sẽ có một sự tương phản rõ rệt khi một nền kinh tế Mỹ – dường như hiện đã có khả năng tạo ra một sự tăng trưởng “tự thân vận động”, còn các nền kinh tế châu Âu và Nhật Bản vẫn chỉ đạt được những kết quả đáng thất vọng bất chấp những động thái mạnh mẽ về tiền tệ (của châu Âu) hoặc cả tiền tệ lẫn ngân sách (của Nhật Bản).

 

 

Kinh tế thế giới năm 2015: những sự tương phản

Năm 2015, các nhà kinh tế học thuộc Ngân hàng Nông nghiệp Pháp chờ đợi một sự tăng nhẹ tốc độ tăng trưởng kinh tế của thế giới, lên mức 3,2% so với 2,9% của năm 2014. Mức tăng thêm này xuất phát từ đâu? Và trong phần còn lại của thế giới? Liệu sự tương phản giữa Mỹ và phần còn lại của thế giới có tác động tới các mức lãi suất hay không? Quả thật, có một sự tương phản rõ rệt khi một nền kinh tế Mỹ – dường như hiện đã có khả năng tạo ra một sự tăng trưởng “tự thân vận động”, còn các nền kinh tế châu Âu và Nhật Bản vẫn chỉ đạt được những kết quả đáng thất vọng bất chấp những động thái mạnh mẽ về tiền tệ (của châu Âu) hoặc cả tiền tệ lẫn ngân sách (của Nhật Bản).

Sẽ là thái quá khi nói rằng nền kinh tế Mỹ không nhận được bất cứ sự hỗ trợ nào của chính sách kinh tế. Chính sách ngân sách hiện mang tính trung lập, song bất chấp sự chấm dứt chương trình nới lỏng định lượng (QE – tiến hành in thêm tiền nhằm mua trái phiếu Chính phủ hoặc chứng khoán, góp phần bơm thêm tiền cho nền kinh tế), chính sách tiền tệ vẫn tạo nhiều thuận lợi. Tuy nhiên, chính sự phục hồi của tiêu dùng cá nhân nhờ sự cải thiện không ngừng thị trường lao động và việc giảm bớt gánh nặng nợ cho các hộ gia đình là yếu tố cơ bản đưa hoạt động kinh tế phục hồi trở lại. Hoạt động đầu tư, về nhà ở và sản xuất, cũng được định hướng tốt. Giá năng lượng giảm cũng tác động thêm.

“Sự khỏe mạnh” của nền kinh tế Mỹ lại một lần nữa minh chứng cho quy chế “người đặt hàng cuối cùng” của Mỹ, vì sự phục hồi đó không nhận được sự trợ giúp nào từ bên ngoài. Năm 2014, sự phục hồi trong khu vực đồng euro đã thất bại, và sự tăng trưởng khiêm tốn – đã được điều chỉnh giảm – trong năm 2015 chắc chắn sẽ phụ thuộc nhiều vào các yếu tố “kỹ thuật”: tổ chức lại các kho dự trữ và mua sắm hàng hóa tiêu dùng lâu bền vì đã lỗi thời. Nhưng vẫn chưa có niềm tin cần thiết vào một sự phục hồi thực sự. Tại Nhật Bản, sau hai quý cắt giảm về mặt kỹ thuật (hàng hóa dự trữ), triển vọng phục hồi kinh tế có thể diễn ra trong ngắn hạn, nhưng nó sẽ là kết quả của một sự điều chỉnh lớn về tiền tệ và ngân sách, và vẫn chưa hoàn toàn mang tính độc lập. Cuối cùng, các nước mới nổi sẽ đạt mức tăng trưởng tương đối ổn định, nhưng tụt rất xa so với “những năm tháng thịnh vượng”, và có những khác biệt lớn giữa các nước.

Năm 2015, Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ (FED) sẽ khởi động một chu kỳ tăng lãi suất, đi kèm với việc tăng các lãi suất dài hạn của Mỹ, và ở một mức độ thấp hơn (sự chênh lệch lãi suất sẽ còn tăng lên), các lãi suất ở châu Âu. Mặt khác, sự tăng lãi suất này cũng là rủi ro suy thoái chính theo kịch bản của chúng tôi: lãi suất tăng quá nhanh sẽ phá hỏng sự phục hồi kinh tế của Mỹ. Nhưng chúng tôi tin tưởng chắc chắn vào sự thận trọng của FED.

Tăng trưởng: Nước Mỹ duy nhất trên thế giới

Niềm tin trở lại của các hộ gia đình và các doanh nghiệp Mỹ, bên cạnh sự giảm giá năng lượng, là động cơ chính thúc đẩy (một cách khiêm tốn) sự tăng trưởng toàn cầu. Song những hạn chế vẫn còn quá mạnh mẽ cho phép đạt được một sự phục hồi thực sự: tình trạng nợ và tâm lý bi quan của các tác nhân kinh tế trong khu vực châu Âu, sự hụt hơi về mô hình tăng trưởng ở Trung Quốc, sự thu hẹp các phạm vi hoạt động của chính sách kinh tế ở phần lớn các nền kinh tế mới nổi.

Châu Âu: tận dụng “luồng oxy”

Năm 2014 là một năm thất vọng trong khu vực đồng euro. Sự cải thiện các dự báo vào cuối năm 2013 đã không trở thành hiện thực trong một tiến trình phục hồi tỏ rõ là khó khăn hơn nhiều so với dự kiến. Sự tăng nhẹ hoạt động kinh tế trong quý III/2014 (tăng 0,2%, sau khi tăng 0,1% ở quý II) đã không làm thay đổi căn bản diện mạo của hoạt động kinh tế kể từ mùa Xuân năm 2014. Tốc độ tăng trưởng được mong đợi trong năm 2014 (0,9%) sẽ kéo theo một hố sâu mới về khoảng cách tăng trưởng với các nền kinh tế lớn khác. Thực vậy, Liên minh kinh tế và tiền tệ châu Âu (EMU) đã điêu đứng do các nước mới nổi giảm nhập khẩu. Những khác biệt về tăng trưởng giữa các nước thành viên vẫn còn khá lớn, bất chấp sự suy yếu của các nền kinh tế trung tâm và sự phục hồi ở một số nước ngoại vi. Những mất cân bằng sâu sắc, nguồn gốc của những khác biệt này, không dễ bị triệt tiêu trong một bối cảnh tăng trưởng và lạm phát thấp, và chắc chắn sẽ không thể bị triệt tiêu theo dự đoán của chúng tôi.

Tuy nhiên, mức sống của các hộ gia đình đã được cải thiện chút ít từ một năm qua. Thu nhập thực tế đã tăng lên mức gần 1% trong quý I/2014, nhờ sự đóng góp tích cực của tiền lương – được bù đắp một phần từ thuế. Nhờ giảm lạm phát, mức tiêu dùng cá nhân được duy trì ở các nước trung tâm và vực dậy ở các nước ngoại vi. Ngược lại, đầu tư về nhà ở tiếp tục giảm. Do tác động của việc giảm giá nhà ở kéo dài, đầu tư tài chính lại được khuyến khích. Tiến trình giảm nợ đã có phần chững lại, dù sao cũng dẫn đến giảm hệ số nợ trên thu nhập thực tế trong một năm.

Tình trạng của các doanh nghiệp còn đáng lo ngại hơn. Chiều hướng tăng lợi nhuận vừa bắt đầu trong quý I/2014 đã gián đoạn ở quý II. Do vậy, các doanh nghiệp đã tiếp tục cắt giảm đầu tư và giảm hàng tồn kho, song không vì thế mà ngăn chặn được tình trạng suy giảm năng lực tài chính của họ. Quá trình hoàn trả nợ ngân hàng đã bị gián đoạn ở quý II, sau khi hệ số nợ bị mất 3 điểm từ một năm qua. Việc nợ tăng trở lại chỉ mới gần đây và còn chưa nhiều song không thể làm tiền đề cho việc tái khởi động đầu tư – một mắt xích yếu trong giai đoạn phục hồi này, chừng nào những điều kiện để lợi nhuận và cải thiện nguồn cung tín dụng không được thực hiện.

Do vậy, chúng tôi đánh giá cao những động lực căn bản theo kịch bản của chúng tôi. Một sự phục hồi mang tính “kỹ thuật” luôn được đặt ra trong ngắn hạn, và dựa trên việc tổ chức lại hàng hóa dự trữ và hàng hóa tiêu dùng lâu bền và các trang thiết bị, do sự lỗi thời của nguồn dự trữ vốn từ lâu đã không được đổi mới. Nhưng giờ đây giả thuyết về một sự khởi động lại nhu cầu bên ngoài – có khả năng làm thay đổi các triển vọng đầu tư – trở nên khó dự kiến hơn. Bất chấp việc tăng các hoạt động xuất khẩu ở Mỹ, sự suy giảm các triển vọng nhập khẩu của các nước mới nổi được thể hiện qua việc giảm các hoạt động xuất khẩu ở bên ngoài Liên minh tiền tệ và kinh tế châu Âu. Mặc dù quá trình giảm nợ đang diễn ra, các triển vọng phục hồi nhu cầu trong khu vực đồng euro vẫn tồn tại. Cú sốc nguồn cung xuất phát từ sự giảm giá các nguyên liệu đã tạo thuận lợi cho việc củng cố lợi thế sức mua và một chu kỳ tiêu dùng bền vững hơn. Sau khi tận dụng các phạm vi hoạt động được quy định trong các hiệp ước châu Âu, định hướng ngân sách mang tính trung lập hơn.

Các biện pháp của Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) đã có một tác động tích cực đối với các lãi suất dài hạn, giảm chi phí tài trợ của các nhà nước và cho phép giành được các phạm vi hoạt động về ngân sách. Các biện pháp đó cũng hỗ trợ giá cổ phiếu, triệt tiêu những ảnh hưởng tiêu cực đối với các tài sản tài chính. Đặc biệt, chúng cho phép làm giảm giá đồng euro – điều cần thiết trong bối cảnh phá giá tiền tệ ở các nước mới nổi. Những yếu tố này chắc chắn không phải là một giải pháp cho sự suy yếu mang tính cơ cấu của nền kinh tế châu Âu, nhưng chúng tạo ra những tiền đề để làm ngưng lại giai đoạn suy thoái gần đây của chu kỳ, cho phép dự báo một sự tăng nhanh tốc độ tăng trưởng trong năm 2015 (1%). Nhịp độ tăng trưởng này không đủ để làm giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp hay khởi động một động lực tăng trưởng do không có một sự chuyển hướng thực sự của chính sách kinh tế.

Năm 2016, các yếu tố ngoại sinh góp phần thúc đẩy tăng trưởng sẽ mất đi sức mạnh bởi giá dầu dự kiến sẽ tăng và một chính sách ngân sách mang tính áp đặt hơn do không có một khung giám sát được cải cách của châu Âu. Tuy nhiên, việc củng cố các động cơ bên trong dựa trên một sự lan truyền tốt hơn về niềm tin và sự kích thích tiền tệ sẽ cho phép một sự tăng nhanh tốc độ tăng trưởng nhất định (1,5%). Nguy cơ tác động lên kịch bản của chúng tôi luôn mang tính suy thoái, gắn với một sự suy giảm nhu cầu bên ngoài lớn hơn dự kiến.

Các yếu tố nguy cơ nội sinh cũng tồn tại trong trường hợp suy giảm niềm tin – biến các lợi thế sức mua thành một xu hướng tiết kiệm cao hơn, hay nếu như hành động của ECB không tạo ra được tín dụng cần thiết để hỗ trợ cho sự phục hồi yếu kém của đầu tư được dự kiến trong kịch bản trọng tâm của chúng tôi.

Mỹ: những khó khăn đã qua và tình hình trở nên sáng sủa

Nền kinh tế Mỹ sẽ đạt được một sự tăng trưởng cao hơn nhịp độ tiềm năng của nó trong năm 2015 và năm 2016. Nhiều yếu tố thường được nêu lên như vật cản kìm hãm tăng trưởng, như cắt giảm ngân sách và giảm nợ cho các hộ gia đình, đã được giảm bớt, và sự giảm giá năng lượng gần đây sẽ tạo thêm một cú hích.

Chúng tôi dự đoán một sự suy giảm tăng trưởng trong quý IV/2015, xuống khoảng 2,5% theo nhịp độ hàng năm, sau tỷ lệ tăng trưởng khoảng 4% trong quý III. Sự suy giảm tăng trưởng này là kết quả của việc giảm chi tiêu quân sự (sau một đợt tăng không kéo dài trong quý III) và không có sự đóng góp tích cực của ngoại thương trong quý IV. Sự sụt giảm giá xăng dầu có tác động tương tự như việc cắt giảm thuế: hỗ trợ sự tăng trưởng. Một phần tiền tiết kiệm sẽ được giữ lại, nhưng phần tiền được chi tiêu có thể hỗ trợ các hoạt động chi tiêu của các hộ gia đình trong nhiều quý, điều này giải thích tại sao chúng tôi lại dự đoán một tỷ lệ tăng trưởng tiêu dùng ở mức 2,9% trong năm 2015, so với 2,2% trong năm 2014.

Thị trường lao động Mỹ tiếp tục được cải thiện, với tỷ lệ thất nghiệp giảm nhanh hơn dự kiến. Các chỉ số về các nguồn lực không được sử dụng đã giảm bớt: đặc biệt là trường hợp thất nghiệp dài hạn và việc làm bán thời gian bắt buộc. Điều này sẽ góp phần làm gia tăng các mức thu nhập, vốn rất khiêm tốn kể từ đầu giai đoạn phục hồi.

Các hộ gia đình Mỹ đã giảm mức độ nợ và nghĩa vụ trả nợ hiện ở mức thấp nhất từ nhiều thập kỷ nay. Ngoài ra, sự đi lên của các thị trường cổ phiếu và sự tăng giá nhà ở đã làm tăng tài sản ròng của họ. Với niềm tin lớn hơn đối với tình hình tài chính của mình và tình hình việc làm, các hộ gia đình có xu hướng sử dụng tín dụng cho các hoạt động mua sắm lớn và chi tiêu có phần thoải mái hơn, cho dù điều này dẫn đến sự sụt giảm tạm thời tỷ lệ tiết kiệm.

Đầu tư sản xuất dự kiến tăng nhẹ trong năm 2015, do sự thúc đẩy tăng trưởng sẽ khuyến khích các doanh nghiệp tìm cách duy trì hệ số vốn trên sản lượng tối ưu. Xu hướng sụt giảm giá năng lượng có thể hạn chế đầu tư trong lĩnh vực khai thác dầu và khí đốt, nhưng lại dẫn đến việc các nhà sản xuất tăng sản lượng với chi phí cao. Sự giảm bớt những lo ngại về chính sách ngân sách của Washington, do Quốc hội Mỹ nằm dưới sự kiểm soát của Đảng Cộng hòa, có thể là yếu tố tích cực đối với môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, xu hướng giảm nhu cầu của thế giới có thể vẫn là một vấn đề đáng lo ngại.

Chúng tôi dự đoán sẽ có sự tăng tốc đầu tư về nhà ở trong năm 2015, nhưng dự đoán của chúng tôi không tránh khỏi những nguy cơ giảm mức dự báo: các điều kiện vay vốn của ngân hàng vẫn còn quá chặt chẽ đối với nhiều khách hàng tiềm năng, và các biện pháp cho phép dễ tiếp cận hơn quỹ tín dụng thế chấp vẫn còn hạn chế. Sự gia tăng thu nhập và cải thiện thị trường lao động sẽ đóng vai trò quyết định để duy trì sự phục hồi thị trường bất động sản nhà ở. Thực vậy, những diễn biến đó sẽ cho phép những khách hàng đầu tiên nhận được những khoản vay thế chấp và có khả năng đảo ngược phần nào xu hướng giảm đối với việc xây dựng gia đình, được nhận thấy ở giới trẻ trong độ tuổi lao động sau giai đoạn suy thoái. Đó là bấy nhiêu yếu tố làm tăng nhu cầu về nhà ở của các hộ gia đình.

Chúng tôi cho rằng ngoại thương sẽ bị ảnh hưởng bởi triển vọng tăng trưởng yếu ớt của nước ngoài và sự lên giá của đồng USD: do vậy, ngoại thương sẽ đóng góp rất ít vào sự tăng trưởng trong năm 2015.

Vấn đề sụt giảm giá dầu thế giới sẽ thể hiện thông qua sự giảm phát trong những quý tới, và do vậy chúng tôi đã điều chỉnh giảm trong dự báo về lạm phát.

Việc củng cố ngân sách đã không còn tác động tới sự tăng trưởng, và thậm chí một động thái kích thích ngân sách sẽ có thể được tính đến, bởi Quốc hội Mỹ có thể sẽ thông qua các biện pháp cắt giảm các khoản thuế không được tài trợ. Họ đã chấp thuận về số tiền tối đa dành cho các khoản chi trong năm tài chính 2015, và sẽ thông qua các nghị quyết cho phép duy trì sự vận hành của chính phủ cho đến cuối năm tài khóa, điều này sẽ dẫn đến một mức thâm hụt ngân sách khoảng 2,6% GDP.

Nhật Bản: hoãn tăng thuế tiêu dùng và các cuộc bầu cử trước thời hạn có lợi cho chính sách Abenomics

Những số liệu tăng trưởng thấp hơn so với dự kiến trong quý III/2014 đã buộc Thủ tướng Shinzo Abe phải chính thức công bố vào ngày 18/11/2014 quyết định lùi 18 tháng thời hạn tăng bổ sung thuế tiêu dùng (từ 8% lên 10%), và tiến hành các cuộc bầu cử Quốc hội trước thời hạn vào giữa tháng 12. Việc chính sách Abenomics sẽ được duy trì cho đến năm 2018 sẽ làm gia tăng những biến động thị trường với những tác động đi kèm như sự suy yếu của đồng yên, sự tăng giá tài sản và sự giảm lãi suất các khoản vay chính phủ.

Có những quan điểm không giống nhau về động thái của ông Shinzo Abe, nhưng chúng tôi tiếp tục nhận định rằng tình hình vẫn thuận lợi cho Đảng Dân chủ Tự do (LDP) của ông Abe và, về mặt kinh tế, chúng tôi nhận thấy việc hoãn thời hạn tăng bổ sung thuế tiêu dùng mang lại những lợi ích: 

- Củng cố niềm tin của các hộ gia đình trong ngắn hạn; 

- Cho phép tiết kiệm thời gian khi chờ đợi các khoản tiền lương cơ bản bắt đầu tăng một cách đáng kể; 

- Giúp Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) có thêm phạm vi hoạt động.

Những yếu tố này sẽ cho phép tạo ra một phạm vi đáng tin cậy cho nền kinh tế tự tăng trưởng và chấm dứt giai đoạn giảm phát, do vậy sẽ bù đắp cho sự thiếu hụt về thuế gây ra bởi việc hoãn tăng thuế tiêu dùng. Do vậy, chúng tôi tin rằng việc hoãn tăng thuế tiêu dùng sẽ không làm chậm lại hoạt động chỉnh đốn hệ thống tài chính công.

Sự sụt giảm GDP bất ngờ trong quý III/2014 (-0,5%, tương đương -1,9% theo tỷ lệ hàng năm) là lần suy giảm thứ hai liên tiếp theo quý, đồng nghĩa với sự suy thoái mang tính kỹ thuật. Tuy nhiên, sự sụt giảm này chủ yếu gắn liền với một sự điều chỉnh lượng hàng hóa dự trữ và chúng tôi không có nhiều thông tin về tình hình trước đây. Những dữ liệu mới đây nhất (về thương mại, sản xuất công nghiệp, các đơn đặt hàng về máy móc và chỉ số tiêu dùng hỗn hợp) đã cho thấy những dấu hiệu phục hồi rõ ràng. Ngoài ra, những biện pháp nới lỏng định lượng bổ sung được BoJ bất ngờ thông báo vào ngày 31/10/2014 (khiến đồng yên sụt giảm mạnh và giá cổ phiếu tăng lên) đã củng cố thêm kịch bản tích cực của chúng tôi về nền kinh tế Nhật Bản. Động thái của BoJ đã dẫn đến một hiệu ứng tài sản tích cực với một khoản tiền khoảng 12.000 tỷ yên trong một vài tuần, tương đương hơn 4% chi tiêu tiêu dùng hàng năm của các hộ gia đình. Chúng tôi cho rằng sự phục hồi tiêu dùng rất có khả năng xảy ra trong ngắn hạn. Chúng tôi chờ đợi một tỷ lệ tăng trưởng chỉ ở mức 0,1% năm 2014, nhưng 1,3% năm 2015 và 1,5% năm 2016, một tỷ lệ rõ ràng cao hơn mức tăng trưởng tiềm năng (0,5%).

Các thị trường mới nổi: không quá mong manh

Năm 2015, các thị trường mới nổi sẽ đối mặt với ba thách thức: tác động của việc tăng các mức lãi suất của Mỹ, trong một bối cảnh tăng trưởng tiềm năng hạn chế, với những điều kiện tiền tệ trong nước nhìn chung còn khó khăn. Tuy nhiên, các thị trường cũng được hưởng lợi từ các chính sách bảo hộ. Vì vậy, cần chọn lọc các thị trường mới nổi, hơn là cứ xa lánh họ.

Sự biến động dường như sẽ trở lại trên các thị trường kể từ mùa Hè. Trên thực tế, do luôn nhạy cảm với sự gia tăng rủi ro, các đồng tiền của các thị trường mới nổi phải đối mặt với nhiều thách thức.

Thách thức đầu tiên là việc bình thường hóa chính sách tiền tệ của Mỹ. Việc tăng lãi suất đã được thông báo của FED có thể trở thành hiện thực vào năm 2015. Điều này sẽ làm tăng hiệu suất trái phiếu của Mỹ, khiến các mức lãi suất ở các nước mới nổi trở nên kém hấp dẫn hơn. Trên thực tế, việc tài trợ cho các nước mới nổi có thâm hụt bên ngoài sẽ được coi là tốn kém và nhiều may rủi hơn, khiến các nhà cho vay và các nhà đầu tư thận trọng hơn đối với các nước này. Xét về mặt này, Thổ Nhĩ Kỳ, Nam Phi, và ở một mức độ thấp hơn, Brazil, Indonesia và Ấn Độ nằm trong số những nước dễ bị tổn thương nhất.

Thách thức thứ hai là sự tăng trưởng kinh tế yếu kém ở nhiều nước mới nổi. Sự tăng trưởng này đã gây thất vọng từ hai hay ba năm qua. Ở những nước này, tiêu dùng cá nhân sẽ vẫn là động lực chính của tăng trưởng, nhưng đã có xu hướng suy yếu trong những quý gần đây. Ngược lại, hoạt động đầu tư ở đó chỉ tăng yếu ớt, nếu như không muốn nói là không tăng (trừ trường hợp đáng chú ý là Trung Quốc), tín hiệu xấu cho sự tăng trưởng trong tương lai. Một điểm tích cực hơn là sự đóng góp của xuất khẩu ròng đã cải thiện kể từ cuối năm 2013, nhưng điều này càng khiến họ phụ thuộc vào sự tăng trưởng của Mỹ.

Vượt ra ngoài những triển vọng tăng trưởng trong ngắn hạn, các thị trường đã có những hoài nghi về sự tăng trưởng tiềm năng của các nước mới nổi, đặc biệt đối với những cải cách hạn chế kể từ 15 năm qua (ngoại trừ một vài trường hợp hiếm hoi, như Mexico). Mặt khác, chính việc thiếu các cải cách lý giải phần nào sự suy yếu của đầu tư.

Thách thức thứ ba là chính sách tiền tệ thiếu linh hoạt. Các nước mới nổi dường như không chắc chắn cắt giảm lãi suất ồ ạt tại thời điểm mà FED dự định tăng các mức lãi suất của họ. Vả lại, trường hợp lãi suất cơ bản thực tế trung bình ở các nước mới nổi đã tăng 200 điểm cơ bản trong vòng 3 năm và gần như đã đạt trở lại mức của năm 2005-2007 – thời kỳ thịnh vượng cho sự tăng trưởng ở các nước mới nổi – hiển nhiên sẽ không còn lặp lại trong tình hình hiện nay. Thêm vào đó là rủi ro về địa chính trị gây ảnh hưởng nặng nề tới Đông Âu. Tuy nhiên, sự sụt giảm giá các nguyên liệu trong những tháng gần đây sẽ hạn chế những triển vọng lạm phát, do vậy nhiều ngân hàng trung ương sẽ không phản ứng thái quá trước việc tăng lãi suất của đồng USD và không thắt chặt một cách quá nhanh chóng các chính sách tiền tệ của họ.

Nhưng vẫn tồn tại những phạm vi hoạt động cho các thị trường. Sự kết hợp những yếu tố ít khởi sắc này dự báo một bối cảnh ít thuận lợi cho các thị trường tài chính. Tuy nhiên, các thị trường tiền tệ và lãi suất cũng được hưởng lợi từ các chính sách bảo hộ tiếp sau đó.

Việc tăng các mức lãi suất của Mỹ chắc chắn sẽ là một yếu tố bắt buộc xảy ra. Nhưng thị trường từ nay đã được chuẩn bị tốt hơn so với năm 2013. Mặt khác, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã trở nên “uyển chuyển” hơn và điều này sẽ bù đắp phần nào sự thắt chặt chính sách tiền tệ đã được dự kiến của Mỹ.

Ngoài ra, một số thị trường mới nổi sẽ áp dụng các mức lãi suất trong nước cao tới mức khiến cho chúng vẫn hấp dẫn hơn so với các mức lãi suất ở Mỹ, ngay cả sau khi các mức lãi suất ở Mỹ bắt đầu tăng một cách thực chất hơn (vì vậy các thị trường toàn cầu không trở lại “trạng thái hoảng loạn” kéo dài).

Hơn nữa, các cuộc bầu cử gần đây ở một số nước lớn mới nổi (Ấn Độ, Indonesia và, ở một mức độ thấp hơn, Brazil) đã mở ra khả năng đẩy nhanh các cuộc cải cách mang tính cơ cấu vốn có thể góp phần giải phóng, trong thời hạn nhất định, tiềm năng tăng trưởng của những nước lớn mới nổi này.

Nhìn chung, bất chấp sự thắt chặt chính sách tiền tệ được dự kiến của Mỹ, hiện tại chưa phải là thời điểm từ bỏ hàng loạt lập trường về các thị trường mới nổi, mà là có sự phân định giữa các thị trường này.

Như vậy, các nước có thặng dư bên ngoài (phần lớn là các nước châu Á) có thể được hưởng nhiều ưu đãi hơn so với các nước có những mất cân bằng bên ngoài (chẳng hạn như Thổ Nhĩ Kỳ và Nam Phi). Do mức độ phục hồi của Mỹ lớn hơn Trung Quốc, người ta sẽ có niềm tin lớn hơn vào các nước xuất khẩu các hàng hóa chế biến (ví dụ như Mexico và các nước công nghiệp hóa của châu Á) so với các nước xuất khẩu nguyên liệu (như Brazil, Nga, Nam Phi). Do hiệu suất tăng trưởng ở châu Âu thấp so với Mỹ, những nước xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ có thể được hưởng nhiều ưu đãi hơn so với các nước hội nhập mạnh mẽ vào khu vực đồng euro.

Chính sách tiền tệ: điều chứng tỏ

Mức độ khác biệt giữa các ngân hàng trung ương lớn sẽ đạt ngưỡng tối đa mới vào năm 2015. Bất cứ sự gia tăng biến động nào đều sẽ buộc FED phải thận trọng hơn.

Chúng tôi tiếp tục trông đợi một sự tăng dần các mức lãi suất của FED trong quý III/2015. Ở thời điểm này, nhiệm kỳ của Ủy ban thị trường mở Liên bang (FOMC) về việc làm sẽ sắp kết thúc và việc cắt giảm các nguồn lực không sử dụng trên thị trường lao động sẽ đẩy tiền lương tăng lên. Đồng thời, lạm phát sẽ vẫn thấp hơn mức mục tiêu 2% của FED, do sự giảm giá năng lượng và các mặt hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, sự gia tăng chi phí lao động và sự tác động mạnh mẽ của những dự báo về lạm phát sẽ củng cố thêm ý tưởng của FED rằng mục tiêu về lạm phát sẽ đạt được ở một thời điểm thích hợp. Sự biến động có thể quay trở lại trên các thị trường tài chính bất chấp chính sách dẫn đường trong các dự báo của FED, điều này sẽ thúc đẩy FED khởi động việc đưa các lãi suất về lại mức bình thường một cách thận trọng: chúng tôi dự đoán lãi suất cơ bản của FED sẽ tăng lên mức 0,5%-0,75% vào cuối năm 2015 và lên mức 2% một năm sau đó. FOMC sẽ vận dụng tỷ lệ dự trữ dư thừa (IOER) và sự dễ dàng của giao dịch mua giấy tờ có giá có cam kết bán lại (Reverse Repo) để kiểm soát việc tăng các lãi suất cơ bản này. Trong giai đoạn thứ hai, FOMC sẽ thay đổi chính sách tái đầu tư đối với danh mục đầu tư của họ nhằm giảm một cách thụ động quy mô bảng cân đối tài sản của họ với một tốc độ vừa phải.

BoJ đã gây ngạc nhiên cho các thị trường qua việc nới lỏng hơn nữa chính sách tiền tệ của họ, sau khi hùng hồn tuyên bố giành thắng lợi (có phần vội vàng, theo quan điểm chúng tôi) trong cuộc chiến chống giảm phát. Kết quả là chúng tôi lại trở nên lạc quan hơn về nền kinh tế Nhật Bản vốn đã cho thấy những dấu hiệu phục hồi rõ ràng hơn sau sự suy thoái trở lại do tăng thuế tiêu dùng hồi tháng 4/2014. BoJ đã thay đổi mục tiêu của chính sách nới lỏng định lượng và định tính (QQE) của mình, và hiện tại BoJ đưa ra mục tiêu tăng gói cung tiền hàng năm lên 80.000 tỷ yên, đặc biệt thông qua việc mua lại các trái phiếu chính phủ Nhật Bản có giá trị ròng hàng năm là 80.000 tỷ yên, tương đương 17% GDP. Chúng tôi cho rằng BoJ sẽ không ngần ngại nới lỏng hơn nữa chính sách của họ nếu cần thiết. Chương trình QQE hiện tại có thể kéo dài đến đầu năm 2018, trong khi việc tăng bổ sung thuế tiêu dùng (từ 8% đến 10%) đã bị hoãn lại đến tháng 4/2017.

Cuối cùng, tình hình ở khu vực đồng euro vẫn đặc biệt khó khăn, sự tăng trưởng trên danh nghĩa vẫn không có dấu hiệu phục hồi một cách thuyết phục. Đến thời điểm nào đó, sự sụt giảm giá dầu sẽ hỗ trợ hoạt động kinh tế, song tác động ngay lập tức được thể hiện thông qua các tỷ lệ lạm phát vẫn còn thấp, gần như bằng không, thậm chí có phần tiêu cực. ECB đã tuyên bố sẵn sàng hành động nhiều hơn, nhưng tới tháng 12/2014 họ vẫn không làm được gì, hiển nhiên là do không có sự đồng thuận trong Hội đồng các thống đốc. Những trở ngại về mặt chính trị và kỹ thuật đối với một chương trình nới lỏng định lượng (QE) hiệu quả có thể được khắc phục, trong trường hợp các triển vọng kinh tế và ổn định giá cả trở nên xấu hơn. Đồng thời, các biện pháp nới lỏng hiện tại sẽ không đủ để làm tăng bảng tổng kết tài sản của ECB lên mức 1.000 tỷ euro. Do vậy, ECB sẽ thực hiện một chương trình mở rộng mua lại các tài sản ngay từ quý I/2015. Kịch bản trọng tâm của chúng tôi cho thấy những tác động gộp lại từ các hành động của ECB cuối cùng sẽ được cảm nhận rõ rệt trong năm 2015, với một sự tăng dần tốc độ tăng trưởng.

Các thị trường tài chính: sự gia tăng những tương phản giữa các chính sách tiền tệ thời kỳ hậu QE

Việc giảm nguy cơ giảm phát ở châu Âu và bước đầu của các đợt tăng lãi suất của FED trong quý III/2015 sẽ kéo theo một giai đoạn tăng các mức lãi suất kỳ hạn 10 năm, làm tăng áp lực đầu cơ lên các chi phí đầu tư bằng đồng USD.

Lãi suất trái phiếu giảm trở lại

Từ tháng 5/2014, các mức lãi suất của Mỹ chủ yếu vẫn giữ khoảng cách 50 điểm cơ bản, trong khoảng từ 2,15% đến 2,65% (ngoại trừ trong giai đoạn “khủng hoảng” với đợt tăng lãi suất hồi giữa tháng 10). Việc tăng lãi suất mà chúng tôi dự kiến đã không xảy ra, bởi sự suy giảm về tăng trưởng và về lạm phát tại khu vực đồng euro đã trở nên nghiêm trọng hơn những gì chúng tôi dự đoán, và FED đã kiểm soát chặt chẽ thị trường trái phiếu Mỹ thông qua hệ thống thông tin liên lạc của mình. Nhưng FED mới chỉ tăng các lãi suất cơ bản cách đây vài tháng và ngày càng có ít các nhà hoạt động kinh tế trông đợi một sự giảm các mức lãi suất dài hạn. Các mức lãi suất cũng rất thấp, và chúng tôi lo ngại rằng hậu quả bất ngờ của các hoạt động điều chỉnh hậu khủng hoảng sẽ là sự biến mất một cách nhanh chóng tính thanh khoản trên các thị trường. Từ nay đến cuối năm 2015, chu kỳ tăng các mức lãi suất của FED sẽ được khởi động rộng rãi và chúng tôi chờ đợi lãi suất kỳ hạn 10 năm của Mỹ sẽ tăng lên khoảng 3,25%. Các mức lãi suất của Đức cũng sẽ tăng lên, giả định rằng hầu hết những lo sợ về sự giảm phát ở châu Âu từ nay đến lúc đó sẽ không còn.

Các mức lãi suất trái phiếu Bund (trái phiếu chính phủ Đức) kỳ hạn 10 năm hiện ở mức 0,75%, bằng khoảng một nửa mức điểm thấp lịch sử của lãi suất kỳ hạn 10 năm của Mỹ năm 2012. Như vậy, Mỹ đã phải đối mặt với mối đe dọa giảm phát, cuộc khủng hoảng nợ công trong khu vực đồng euro cũng hết sức gay gắt, và gói QE3 sắp được khởi động. Lãi suất trái phiếu Bund hiện đang ở mức quá thấp, nhưng bất chấp các dữ liệu của châu Âu có thể được cải thiện, thị trường sẽ chấp nhận đánh giá lại nguy cơ giảm phát ở mức thấp, chứ không phải là dự đoán về một khả năng tự phục hồi. Từ nay tới cuối năm 2015, tác động của sự tăng nhanh bảng tổng kết tài sản của ECB sẽ không còn nữa và chúng tôi mong đợi sự tăng lãi suất trái phiếu Schatz kỳ hạn 2 năm trong vùng tích cực. Cho dù các mức lãi suất tăng ở châu Âu, chúng tôi không trông đợi sự đảo ngược đáng kể xu hướng giảm chênh lệch lãi suất ở các nước vùng ngoại vi (của khu vực đồng euro – ND): quả thực, chính vùng ngoại vi là nơi mà sự phục hồi tăng trưởng diễn ra nhanh nhất. Chúng tôi cho rằng khoản chênh lệch lãi suất giữa trái phiếu Bund và trái phiếu BTP (trái phiếu chính phủ Italy) kỳ hạn 10 năm sẽ đạt điểm cân bằng trung hạn (75 điểm cơ bản) từ nay tới cuối năm 2015. Chúng tôi dự đoán các mức lãi suất trái phiếu Bund sẽ tăng gấp đôi, lên mức 1,50% từ nay tới cuối năm 2015, trên thực tế trùng với mức điểm thấp lịch sử của lãi suất kỳ hạn 10 năm của Mỹ.

Đồng USD vẫn sẽ ở mức cao trong quý I/2015

Sự không hài lòng của FED gắn liền với sự tăng giá đồng USD trong quý I/2015 có thể sẽ bị che khuất bởi các chính sách khiêu khích của BoJ và ECB. Trong bối cảnh này, chúng tôi đã điều chỉnh giảm các dự báo của mình về đồng yên so với đồng USD và các đồng tiền châu Á, trong khi chúng tôi dự đoán trong năm 2015 tỷ giá đồng euro/USD sẽ tiếp tục được điều chỉnh giảm. Đứng trước việc tăng các chi phí tài trợ bằng đồng USD, các đồng tiền mới nổi sẽ đặc biệt chịu áp lực nhiều hơn.

Trong quý II/2015, sự phát triển của thị trường ngoại hối sẽ bị chi phối chủ yếu bởi những tác động ban đầu của các biện pháp được BoJ và ECB thông qua, đặc biệt là việc BoJ bất ngờ tăng gói QQE và việc hoãn tăng thuế tiêu dùng tại Nhật Bản. Đó là những quyết định khiến chúng tôi phải điều chỉnh tăng các dự báo của mình về tỷ giá đồng USD/yên lên mức 123 vào khoảng cuối tháng 3/2015. Tương tự, ECB sẽ hướng tới các biện pháp nới lỏng nhiều tham vọng hơn, nhưng do đồng euro được bảo vệ qua việc quay vòng các dự trữ ngoại hối được quy đổi sang đồng USD, chúng tôi hy vọng tỷ giá đồng euro/USD sẽ dần ổn định. Trong ngắn hạn, chúng tôi muốn nhắc lại rằng có lẽ chỉ còn rất ít thời gian, trong khi chờ đợi bản tổng kết năm và những đánh giá của FED về đồng USD, để khởi động việc điều chỉnh giảm đồng USD vào cuối năm 2015. Những người còn hoài nghi về khả năng của FED tác động lên thị trường ngoại hối chỉ cần quan sát ưu thế của đồng USD qua các khối lượng giao dịch hàng ngày.

Vả lại, việc tăng các chi phí tài trợ bằng đồng USD cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường ngoại hối trong quý I/2015. Sự tăng dần các chi phí tài trợ (khiến các hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi suất trở nên kém hấp dẫn hơn) sẽ thúc đẩy việc đánh giá lại sự tiếp cận các đồng tiền mới nổi, và tác động mạnh tới các đồng tiền có khả năng sinh lợi cao nhưng có tính thanh khoản thấp nhất trong quý II/2015. Đặc biệt, việc thắt chặt chính sách tiền tệ của FED có thể tác động mạnh tới các đồng tiền đang cạnh tranh lẫn nhau để thu hút các luồng đầu tư vốn cho phép các đồng tiền này tài trợ cho các thâm hụt tài khoản vãng lai. Các chỉ số giao dịch chênh lệch lãi suất của chúng tôi đã cho thấy việc định giá lại đã có một tác động đáng kể đến hiệu suất của các đồng tiền mới nổi trong quý IV/2014. Ngoài ra, việc tái cân bằng khối lượng dự trữ của các ngân hàng trung ương sẽ chậm lại vì những lý do tương tự, và nhiều đồng tiền – đặc biệt là các đồng tiền mà hiệu suất của chúng phụ thuộc mạnh mẽ, thông qua ngoại thương và/hoặc các luồng tài chính, vào một nền kinh tế toàn cầu vốn không chắc chắn – có thể cho thấy dễ bị tổn thương.

Theo Báo cáo của Ngân hàng Nông nghiệp Pháp

Lan Hương (gt)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Quan hệ kinh tế ASEAN-Ấn Độ: Nền tảng thấp, tiềm năng lớn

Quan hệ kinh tế ASEAN-Ấn Độ: Nền tảng thấp, tiềm năng lớn

Dù có sự quan tâm rộng lớn đối với Đông Nam Á, Ấn Độ liên tục bị chỉ trích vì lập trường cứng rắn về các thỏa thuận thương mại với ASEAN. Hơn nữa, Ấn Độ thường được so sánh với các đối tác đối thoại Đông Á của ASEAN để làm nổi bật sự can dự hạn chế về mặt kinh tế của nước này với ASEAN. Tại sao ASEAN và Ấn Độ lại có một mối quan hệ kinh tế hạn chế như vậy?

Đọc tiếp...

Một cách hiệu quả hơn để thách thức Trung Quốc về thương mại

Một cách hiệu quả hơn để thách thức Trung Quốc về thương mại

Khao khát của Trump là chiến đấu chống lại chủ nghĩa trọng thương của Trung Quốc được chia sẻ rộng rãi trên mọi phương diện chính trị của Mỹ và ngày càng nhiều trong khu vực tư nhân Mỹ. Tuy nhiên, điều gây tranh cãi nhiều hơn là cách tiếp cận của ông.

Đọc tiếp...

Chiến lược vượt qua Mỹ của các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương

Chiến lược vượt qua Mỹ của các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương

Nhật Bản và Úc đã đóng vai trò tiên phong trong việc thúc đẩy Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương mà không có Mỹ. Thỏa thuận này được ký kết vào ngày 8/3 và có khả năng sớm có hiệu lực vào đầu năm 2019, sau khi ít nhất 6 trên 11 quốc gia thành viên thông qua.

Đọc tiếp...

Kết nạp Trung Quốc vào WTO có phải là sai lầm?

Kết nạp Trung Quốc vào WTO có phải là sai lầm?

Mỹ đã và đang có sự bất mãn ngày càng gia tăng đối với việc Bắc Kinh không tuân theo các chuẩn mực kinh tế tự do. Việc để cho Trung Quốc gia nhập WTO có phải là một sai lầm chiến lược hay không? Nếu đó là một sai lầm, có lựa chọn thay thế nào tốt hơn?

Đọc tiếp...

Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung có phải là lựa chọn duy nhất?

Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung có phải là lựa chọn duy nhất?

Đối thoại vẫn là thiết yếu. Nó phải được thực hiện thường xuyên, không phải để tạo ra một vẻ ngoài giả tạo là kết hợp các quy chuẩn mà đơn thuần để tránh những cơn phẫn nộ không cần thiết và phản tác dụng. Không dễ để thắng trong những cuộc chiến tranh thương mại. Mặt khác, về cơ bản không dễ để thua trong các cuộc đối thoại.

Đọc tiếp...

Mỹ đã đánh mất ảnh hưởng tại châu Á như thế nào?

Mỹ đã đánh mất ảnh hưởng tại châu Á như thế nào?

Nếu Mỹ tiếp tục duy trì vị thế lãnh đạo APEC trong việc thúc đẩy Khu vực mậu dịch tự do châu Á-Thái Bình Dương thì việc rút khỏi TPP là một sai lầm chính sách khủng khiếp. Một lý do mà Nhật Bản dẫn đầu thúc đẩy CPTPP là để chờ đợi “Người đẹp ngủ trong rừng” thức giấc trong tương lai gần.

Đọc tiếp...

Địa chính trị của “cuộc chiến thương mại” giữa Mỹ và các nước

Địa chính trị của “cuộc chiến thương mại” giữa Mỹ và các nước

Mối đe dọa của cuộc chiến thương mại từ Donald Trump sẽ là một phép thử năng lực của châu Âu và người châu Âu trong việc tự vệ và thúc đẩy một cách nhìn khác về thế giới so với cách nhìn của Tổng thống Mỹ.

Đọc tiếp...

TPP sống sót, Mỹ thất thủ

TPP sống sót, Mỹ thất thủ

Người ta tiếc cho thỏa thuận TPP và viết nhiều lời tuyên bố về sự chấm dứt của thỏa thuận này. Nhưng một năm sau đó, tình thế đã đổi khác.

Đọc tiếp...

Phải chăng kỷ nguyên lao động giá rẻ của Trung Quốc thực sự đã qua?

Phải chăng kỷ nguyên lao động giá rẻ của Trung Quốc thực sự đã qua?

Lương của người lao động Trung Quốc có thể đang tăng, nhưng số liệu thống kê chính thức không nói lên toàn bộ câu chuyện. 

Đọc tiếp...

Đầu tư của Trung Quốc tại châu Âu: Bài học cho Đông Nam Á

Đầu tư của Trung Quốc tại châu Âu: Bài học cho Đông Nam Á

Đầu tư của Trung Quốc vào châu Âu hiện nay vẫn còn hạn chế, tuy nhiên EU đang cảm thấy áp lực ngày càng lớn khi chưa rõ động cơ đằng sau các nguồn đầu tư này. Những phân tích về tác động từ những khoản đầu tư của Trung Quốc vào Châu Âu rất đáng để Đông Nam Á học hỏi.

Đọc tiếp...

Lý do quan hệ kinh tế Mỹ-Trung cần cân bằng hơn

Lý do quan hệ kinh tế Mỹ-Trung cần cân bằng hơn

Cả Mỹ và Trung Quốc đều gắn với nhau do sự phụ thuộc cùng có lợi. Trung Quốc phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu Mỹ với khoảng 161,6 tỷ USD trong năm 2015 trong khi Mỹ dựa vào việc Trung Quốc nắm giữ trái phiếu chính phủ Mỹ và các tài sản USD khác.

Đọc tiếp...

Cuộc ganh đua nhằm tạo dựng khuôn khổ RCEP giữa Trung – Nhật

Cuộc ganh đua nhằm tạo dựng khuôn khổ RCEP giữa Trung – Nhật

Cuộc ganh đua nhằm tạo dựng khuôn khổ của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) đang tăng tốc, khi Trung Quốc và Nhật Bản có cách nhìn khác nhau về thỏa thuận thương mại tại khu vực có phạm vi ảnh hưởng tới 1/2 dân số thế giới và chiếm 1/3 sản lượng kinh tế toàn cầu này.

Đọc tiếp...

Indonesia coi trọng IORA chỉ sau ASEAN?

Indonesia coi trọng IORA chỉ sau ASEAN?

Indonesia đang nỗ lực thể hiện vai trò, vị trí của mình trong Hiệp hội các Quốc gia vành đai Ấn Độ Dương với mong muốn tổ chức này sẽ góp phần thực hiện chiến lược trở thành “trung tâm biển” của nước này, giúp đưa Indonesia lên một tầm cao mới.

Đọc tiếp...

Quốc gia nào sẽ thay thế Trung Quốc trở thành “công xưởng” của thế giới?

Quốc gia nào sẽ thay thế Trung Quốc trở thành “công xưởng” của thế giới?

Các quốc gia như Malaysia, Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam đều có những đặc điểm để thay thế Trung Quốc, trong đó Ấn Độ là nước đang chiếm ưu thế nhất. Tuy nhiên, điều này chưa phải là cơ sở đầy đủ để cho rằng các quốc gia khác sẽ không thể trở thành một "Trung Quốc mới". 

Đọc tiếp...

Đã đến lúc Mỹ mạnh tay với vấn đề đầu tư Trung Quốc?

Đã đến lúc Mỹ mạnh tay với vấn đề đầu tư Trung Quốc?

Về kinh tế và nhất là trong đầu tư, những số liệu cụ thể cho thấy rằng, Trung Quốc cần Mỹ hơn rất nhiều so với Mỹ cần Trung Quốc. Với việc Trung Quốc có những hành động không mấy “thân thiện” với các nhà đầu tư Mỹ, đã đến lúc Mỹ cần thay đổi và mạnh tay hơn với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Những tác động rõ ràng đầu tiên của Brexit

Những tác động rõ ràng đầu tiên của Brexit

Hơn 6 tuần đã trôi qua kể từ khi cử tri Vương quốc Anh quyết định để quốc gia này rút khỏi Liên minh châu Âu (EU), khoảng thời gian đủ để một số tác động kinh tế của cuộc trưng cầu dân ý đó trở nên rõ ràng đối với cả Anh và châu Âu.

Đọc tiếp...

Việt Nam được lợi gì từ Brexit

Việt Nam được lợi gì từ Brexit

Đối với kinh tế Việt Nam, Brexit không hẳn sẽ chỉ đem đến những tác động tiêu cực mà Việt Nam sẽ vẫn có được một số lợi ích nhất định, cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn.

Đọc tiếp...

Vấn đề Brexit: Cuộc khủng hoảng kinh tế mới chỉ bắt đầu

Vấn đề Brexit: Cuộc khủng hoảng kinh tế mới chỉ bắt đầu

Các chuyên gia cũng thường mắc sai lầm, song lần này, những người ủng hộ Brexit sẽ phải trả giá đắt vì đã phớt lờ ý kiến từ các chuyên gia kinh tế. Cuộc trưng cầu ý dân này sẽ đem đến những hệ lụy tức thì và thậm chí là lâu dài.

Đọc tiếp...

TPP và những tác động đối với Châu Á - Thái Bình Dương

TPP và những tác động đối với Châu Á - Thái Bình Dương

Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) - một thỏa thuận thương mại tiêu chuẩn cao đối với các thành viên tham gia, trong khi đó thế giới hiện cũng đang tồn tại nhiều hiệp định, cơ chế thương mại vốn đem lại nhiều lợi ích cho các bên tham gia. Vậy tại sao TPP lại thu hút sự quan tâm của các nền kinh tế và là trung tâm trong các cuộc tranh luận?

Đọc tiếp...

Ba ngộ nhận về quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN

Ba ngộ nhận về quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN

Các đánh giá thường thể hiện Trung Quốc là đối tác kinh tế quan trọng nhất đối với các nước Đông Nam Á. Nhưng theo quan điểm của tác giả, thực chất lại hoàn toàn không phải vậy.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 9426 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin